Lý do thu hồi được Cục Quản lý dựoc đưa ra là sản phẩm Dầu gội đầu Newgi.C 100ml không đáp ứng yêu cầu chất lượng về chỉ tiêu giới hạn vi sinh vật trong mỹ phẩm, cụ thể là chỉ tiêu tổng số vi sinh vật đếm được và phát hiện Pseudomonas aeruginosa.
Nâng cao hệ số thu hồi dầu tại Việt Nam và Nga (Chinhphu.vn) - Ngày 18/12, tại Hà Nội, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) và Viện Nghiên cứu VNIINEFT (Liên bang Nga) đã ký kết hợp tác nghiên cứu các giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu cho các dự án khai thác dầu khí tại Việt Nam và Liên bang Nga.
Theo đó, Cục Quản lý Dược thông báo đình chỉ lưu hành, thu hồi trên toàn quốc lô sản phẩm dầu gội đầu Newgi.C 100ml (số lô: 011121; ngày sản xuất: 12/11/21; hạn dùng: 12/11/24; trên nhãn ghi “SCB: 180/20/CBMP-CT, Công ty cổ phần dược phẩm Phương Nam, trụ sở chính - xưởng sản xuất: 300C Nguyễn Thông, phường An
Bình thu hồi dầu không chỉ dùng thu hồi dầu từ bình tách dầu mà còn thu từ tất cả các bình khác. Để thu gom dầu, người ta tạo áp lực thấp trong bình nhờ đường nối bình thu hồi dầu với đường hút máy nén. - Xả ra ngoài.
Bình có lỗ thu hồi dầu ăn giúp hạn chế tình trạng chảy dầu lên thân bình. Thêm vào đó, bình còn có nắp giúp đậy kín hơi hoàn toàn, tránh tình trạng bụi bẩn sau khi sử dụng, tuy nhiên nắp rời nên bạn cần cẩn thận để tránh làm rơi nắp mỗi khi sử dụng.
Nhiều ý kiến đóng góp trong việc thu hồi đất để sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai 2013. Xác định bản chất, tiêu chí của các trường hợp thu hồi đất; xác định thiệt hại, bồi thường; những trường hợp được áp dụng, hỗ trợ tái định cư; xác định giá đất là
gP64Pr3. Chuyên mục Tin Mới, Tin Tức Post Views Thiết bị phụ trong hệ thống lạnh – tách dầuBình chứa dầuCác loại bình chứaBình chứa cao ápBình chứa tuần hoànBình chứa thu hồiBình tách lỏngBình trung gianBình tách khí không ngưng Thiết bị phụ trong hệ thống lạnh – Những thiết bị phụ của hệ thống lạnh của kho lạnh bao gồm bình tách dầu, bình chứa dầu, các loại bình chứa cao áp, hạ áp, tuần hoàn, các loại bình trung gian, thiết bị hồi nhiệt, bình tách lỏng, thiết bị quá lạnh lỏng, các fin lọc, fin sấy, thiết bị xả khí, bơm, quạt, các thiết bị tuần hoàn chất tải lạnh và các dụng cụ như van, clape … Bình tách dầu Người ta sử dụng bình tách dầu khi môi chất lạnh hòa tan hạn chế hoặc không hòa tan dầu bôi trơn như NH3 và 1 vài Freon. Nó dùng để tách dầu ra khỏi hơi môi chất, để dầu khỏi đi qua các thiết bị trao đổi nhiệt như bay hơi và ngưng tụ. Tùy theo hiệu quả tách dầu của thiết bị mà dầu được tách ra nhiều hay ít ở thiết bị tách dầu. Một phần nhỏ dầu vẫn đi theo hơi vào thiết bị ngưng tụ và bay hơi nên người ta vẫn phải áp dụng các điều kiện khác để rửa dầu, xả dầu ra khỏi các thiết bị này. Bình tách dầu được lắp đặt trên đường đẩy giữa máy nén và thiết bị ngưng tụ. Từ máy nén, dầu bị cuốn theo hơi dưới dạng bụi dầu, ở nhiệt độ 80-150˚C dầu cũng bị hóa hơi 1 phần 3-30%. Bình tách dầu làm việc theo nguyên lý thay đổi hướng và tốc độ chuyển động, nhờ khối lượng riêng của bụi dầu và hơi môi chất khác nhau, làm mát để ngưng tụ hơi dầu… Ngày nay người ta thường sử dụng bình tách dầu dạng xoắn có tấng đệm. Khi nhiệt độ dầu đẩy lớn hơn 140˚C thì hơi được làm mát sơ bộ xuống 80-90˚C trước khi đưa vào bình tách dầu. Trong thiết bị lạnh dùng môi chất Freon ở chế độ làm việc trung bình và lớn hơn 0˚C không cần sử dụng bình tách dầu vì dầu bôi trơn hòa tan hoàn toàn vào môi chất và cùng tuần hoàn với môi chất. Ở chế độ nhiệt độ thấp, máy lạnh làm việc với R22, sau máy nén người ta bố trí bình tách dầu làm mát bằng nước với ống xoắn có cánh bằng đồng. Tốc độ hơi trong bình tách dầu phải nằm trong khoảng 0,7-1m/s còn trong ống dẫn đến bình tách dầu thì từ 20-25m/s đối với NH3 và từ 15-20m/s đối với Freon. Xả dầu ra khỏi bình tách dầu trong hệ thống lạnh ammoniac là rất nguy hiểm vì áp suất trong bình rất cao 0,8-1,8MPa và dẫn đến tổn thất môi chất. Do đó người ta phải bố trí bình chứa dầu. Bình chứa dầu Bình chứa dầu nhằm mục đích gòm dầu từ các bình tách dầu và bầu dầu của toàn bộ hệ thống giảm nguy hiểm khi xả dầu và giảm tổn thất môi chất khi xả dầu khỏi hệ thống lạnh. Bình chứa dầu có đường ống nối với đường hút của máy nén. Khi mở van nối thông với đường hút có thể giảm áp suất trong bình đến áp suất khí quyển, theo dõi áp suất trong bình bằng áp kế. Trước khi xả dầu có thể sưởi nóng dầu để hơi NH3 thoát ra hết. Khi xả dầu, áp suất trong bình chỉ được phép lớn hơn áp suất khí quyển 1 chút ít và nhớ đóng tất cả các van khác lại. Các loại bình chứa Bình chứa cao áp Bình chứa cao áp được bố trí ngay sau bình ngưng tụ dùng để chứa môi chất lỏng ở áp suất cao, giải phóng bề mặt trao đổi nhiệt của thiết bị ngưng tụ, duy trì sự cấp dỏng liên tục cho van tiết lưu. Thường nó được đặt dưới bình ngưng và được cân bằng áp suất với bình ngưng bằng các đường ống cân bằng hơi và lỏng. Bình chứa tuần hoàn Bình chứa tuần hoàn được sử dụng cho các hệ thống ammoniac và Freon lớn tuần hoàn môi chất lạnh trong các thiết bị bay hơi cưỡng bức. Bình chứa tuần hoàn được lắp đặt bên phía áp suất thấp và được sử dụng như 1 bình chứa để bơm chất lỏng lên các dàn lạnh. Bình chứa tuần hoàn có kiểu đặt nằm ngang và đặt thẳng đứng. Bình chứa tuần hoàn nằm ngang cũng được lắp đặt giống như bình chứa cao áp nhưng không có bộ phận tách khí không ngưng, mà có thêm ống nối với bơm lỏng tuần hoàn. Bình chứa tuần hoàn nằm ngang được bố trí kết hợp với bình tách lỏng phía trên còn bình chứa tuần hoàn đứng không có bình tách lỏng vì nó có thể tự tách lỏng do cách bố trí các ống ra vào. Bình chứa tuần hoàn phải chứa được toàn bộ môi chất lỏng của các tổ dàn hoặc dàn làm lạnh không khí ở nhiệt độ sôi đã cho và với điều kiện bộ chứa lỏng trong hệ thống đặt 20-30% đối với hệ thống cấp lỏng từ trên và 60% đối với hệ thống cấp lỏng từ dưới, đối với dàn lạnh không khí là 50% dung tích của dàn. Bình chứa tuần hoàn phải làm việc với áp suất thấp nên phải có bọc cách nhiệt. Bình chứa thu hồi Bình chứa thu hồi dùng để chứa môi chất lỏng tù các dàn bay hơi khi phá băng bằng hơi nóng. Bình chứa thu hồi cũng như bình chứa tuần hoàn, là dạng hình trụ có thể nằm ngang hoặc thẳng đứng. Bình chứa thu hồi cần phải chứa được lỏng từ dàn bay hơi của phòng lạnh lớn nhất với hệ số chứa đến 80% vì người ta chỉ tiến hành phá băng cho từng phòng, không đồng thời. Bình tách lỏng Bình tách lỏng liquid senprator được sử dụng trong máy lạnh amoniac. Nó có nhiệm vụ tách môi chất lỏng khỏi hơi hút về máy nén, đảm bảo hơi hút về máy nén ở trạng thái bão hòa khô, tránh hiện tượng va đập thủy lực ở máy nén. Bình tách lỏng thường là hình trụ kiểu thẳng đứng. Bình tách lỏng làm việc theo nguyên tắc giảm tốc độ và thay đổi hướng di chuyển của dòng hơi tốc độ giảm đến 0,5m/s. Do tốc độ giảm đồng thời đổi hướng nên giọt lỏng và bụi bị tách ra, rơi xuống đáy bình, chỉ có hơi khô đi về máy nén. Bình tách lỏng có bố trị bộ điều chỉnh và chỉ báo mức lỏng trong thiết bị khi mực lỏng dâng len đến vị trí nguy hiểm. Bình trung gian Bình trung gian được sử dụng trong máy lạnh 2 hoặc nhiều cấp. Bình trung gian dùng để làm mát trung gian hơi môi chất sau cấp nén áp thấp và để quá lạnh môi chất trước khi vào can tiết lưu bằng cách bay hơi 1 phần môi chất lỏng dưới áp suất trung gian. Ngoài ra bình trung gian cũng đóng vai trò là bình tách lỏng đảm bảo hơi hút về máy nén cấp cao là hơi bão hòa khô. Ngày nay trong máy lạnh amoniac 2 cấp người ta sử dụng rộng rãi loại bình có ống xoắn Ưu điểm của bình trung gian có ống xoắn là dầu ở máy nén cấp thấp không đi vào tuyến lỏng để vào thiết bị bay hơi, tạo lớp bẩn trên bề mặt thiết bị bay hơi. Bình tách khí không ngưng Cùng tuần loan với môi chất lạnh trong hệ thống lạnh có không khí là các loại khí không ngưng. Thành phần chủ yếu của khí không ngưng vẫn là không khí. Không khid lọt vào hệ thống do nhiều nguyên nhân khác nhau như khi tiến hánh sửa chữa hệ thống, khi hút chân không hệ thống, độ chân không chưa đảm bảo yêu cầu, khi hệ thống làm việc ở độ chân không khi nhiệt độ sôi quá thấp, do phân hủy môi chất… Trong thiết bị ngưng tụ, không khí tạo thành các lớp bao quanh bề mặt trao đổi nhiệt làm tăng nhiệt trở ngưng tụ làm xấu quá trình trao đổi nhiệt khi ngưng, làm tăng áp suất ngưng tụ. Máy lạnh amoniac thường được xả định kì khí không ngưng. Phải khả không khí vào bình nước, bọt khí sẽ nổi nên còn amoniac lẫn trong khí sẽ bị nước hấp thụ. Trên đây ĐIỆN LẠNH BIỂN BẠC xin giới thiệu với các bạn 1 cái nhìn tổng quát nhất về 1 số thiết bị phụ trong hệ thống lạnh sử dụng trong việc lắp đặt kho lạnh, thiết kế kho lạnh và từ đó vận hành hệ thống một cách an toàn và hiệu quả nhất. Mọi chi tiết xin liên hệ CÔNG TY CỔ PHẦN CƠ ĐIỆN LẠNH BIỂN BẠC VPGD Số 812, đường Phúc Diễn, phường Xuân Phương, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Mã số thuế 0106802243 Hotline 0926 381 999 Điện thoại 02462 543 777 Bài viết liên quan
1. Đặc tính dầu bôi trơn trong hệ thống lạnh – Phải tương thích với môi chất lạnh, không phản ứng và tạo ra các hợp chất lạ trong hệ thốngTính chất vật lý, sự phản ứng hóa học giữa dầu bôi trơn và môi chất lạnh là yếu tố quan tâm hàng đầu đối với hệ thống lạnh nói chung và thiết bị bay hơi nói riêng. Dầu bôi trơn phải làm giảm ma sát, loại bỏ nhiệt lượng sinh ra của chi tiết khi chuyển động và làm chèn kín giữa các ổ trục. Dầu bôi trơn phải đáp ứng được yêu cầu sau – Hỗn hơp dầu bôi trơn và môi chất lạnh phải ở mức vừa phải để đáp ứng yêu cầu bôi trơn các chi tiết chuyển động – Nhiệt độ đông đặc phải thấp, không chứa các tạp chất như cặn, các chất rỉ sét… – Không được lẫn hơi ẩm vì ẩm, môi chất lạnh, dầu bôi trơn có thể phản ứng tạo các khí lạ hay axit.. – Không được sủi bọt và oxi hóa – Không được dẫn điện khi sử dụng trong máy nén kín và nửa kín Tuy nhiên, dầu bôi trơn không thể đáp ứng các yêu cầu trên. Do đó, tùy từng trường hợp, hệ thống cụ thể mà ta chọn cho thích hợp. Trong đó dầu tổng hợp có thể chịu được nhiệt độ rất cao và thấp, đặc biệt với hệ thống bơm nhiệt 2. Bộ phận tách dầu Trong quá trình nén, một phần dầu nhớt trên thành xy lanh sẽ đi theo môi chất ra ngoài. Để làm giảm lượng dầu vào hệ thống, phải lắp thêm bình tách dầu tại đầu đẩy máy nén. Nguyên lý của bình tách dầu là làm giảm động năng dòng môi chất bằng những cách như đổi hướng đột ngột, giảm vận tốc, sử dụng bình tách dầu kiểu xy clon…. Phần lớn dầu đựơc tách ra và rơi xuống đáy bình và có thể được hồi về cac te máy nén. Lượng dầu hồi về máy nén được điều khiển bằng phao gắn trong đó hay sử dụng ống tiết lưu dầu. Nếu sử dụng ống tiết lưu dầu ta phải gắn thêm van điện từ dể cách ly khi máy nén ngừng làm việc. Khi máy nén ngừng, hơi môi chất áp suất cao còn trong bình tách dầu sẽ ngưng tụ và hòa tan với dầu bôi trơn làm giảm khả năng bôi trơn của nó cho nên ta phải lắp điện trở tại đáy bình. 3. Việc tuần hoàn dầu trong hệ thống lạnh Dầu bôi trơn đi vào thiết bị ngưng tụ làm giảm đi hệ số truyền nhiệt và đọng lại đáy bình. Hỗn hợp này đi qua van tiết lưu và đi vào vào thiết bị bay hơi. Môi chất lạnh sẽ bay hơi nhưng dầu nhớt vẫn còn đọng lại trong thiết bị. Một phần nhỏ sẽ bay hơi cùng với môi chất lạnh về máy nén. Do dầu bôi trơn làm giảm trao đổi nhiệt thiết bị bay hơi nên ta phải tìm cách khống chế giơí hạn lượng dầu trên. Phương pháp giới hạn việc đọng dầu trong hệ thống phụ thuộc nhiều vào khả năng hòa tan, khối lượng riêng của nó. Bảng dươí đây giúp ta xem xét khả năng hòa tan với từng loại môi chất Môi chất lạnh Tại O0C Tại 350C R134a R22 R717 Hòa tan hoàn toàn Dầu sẽ nổi trên bề mặt và môi chất lạnh chìm phía dưới Không hòa tan dầu Hòa tan hoàn toàn Hòa tan hoàn toàn Không hòa tan dầu Qua bảng trên ta thấy, đối với hệ thống sử dụng môi chất R717 dầu sẽ đọng lại dươí đáy bình do khối luợng riêng của nó bé hơn môi chất. Qua yếu tố trên, ta dễ dàng phân biệt hệ thống sử dụng môi chất R717 do sử dụng ống xả dầu đặt tại đáy bình. Dầu sẽ được xả một cách định kỳ trong thời gian hoạt động. Ngược lại, đối với hệ thống sử dụng Freon dầu được hòa tan hoàn trong môi chất. Nhưng trong thiết bị bay hơi tại nhiệt độ thấp, dầu nổi trên bề mặt. Bằng cách một phần nhỏ hỗn hợp dầu và môi chất trên bề mặt rồi dùng nhiệt lượng của môi chất lạnh từ bình ngưng tụ đến để làm bay hơi nên chúng sẽ được tách ra sơ đồ theo hình vẽ dưới Ngoài ra để hồi dầu từ thiết bị bay hơi về máy nén tốt hơn ta phải thiết kế đường ống đảm bảo vận tốc đầu hút không nhỏ hơn 5m/s đối với ống nằm ngang và không được nhỏ hơn 8m/s đối với ống đứng Nếu thiết bị bay hơi đuợc đặt máy nén thì nên sử dụng phương pháp chạy rút môi chất khi dừng máy hoặc ta dùng bẫy chữ U ngược tại ống ra để tránh môi chất chảy về máy nén. Ngược laị nếu máy nén đặt trên thiết bị bay hơi ta phải bố trí bẫy dầu hình chữ U giúp dầu quay lại máy nén dễ dàng. Trong trường hợp TBNT đặt cao hơn máy nén, ta phải lắp bẫy dầu hình chữ U sát máy nén để tránh dầu quay ngược lại đầu đẩy máy nén gây va đập thủy lực. Đường ống đi vào thiết bị ngưng tụ cũng được bố trí hình chữ U ngược ngăn chặn lỏng từ TBNT quay lại máy nén. 4. Phương pháp bố trí đường ống cho máy nén lắp song song Phương pháp đơn giản nhất là sử dụng ống cân bằng dầu giữa 2 máy nén. Ống cân bằng được lắp dưới mức dầu để đảm bảo dầu luôn luôn ở mức cân bằng giữa 2 máy nén. Tuy nhiên phương pháp này chỉ sử dụng cho hệ thống nhỏ, bố trí ít máy nén. Đối với hệ thống lớn sử dụng nhiều máy nén thì đường ống hút máy nén phải được thiết kế với tổn thất áp suất như nhau. Ống góp hơi nên đặt thấp hơn máy nén để tránh máy nén hút phải lỏng, ống hút phải thẳng hàng và phải lắp thêm ống hút dầu như sau Ống hút hơi môi chất phải được vát một góc 300 để dầu nhớt có thể rơi xuống ống góp dễ dàng và phải cách đáy ống góp một khoảng nhỏ vài mm tránh hút phải cặn. Đối với hệ thống lắp 2 máy nén song song chỉ dùng 2 máy nén ta có thể bố trí như sau Nếu mặt bằng lắp đặt không cho phép bố trí ống góp hơi nằm bên dươí cho nên ống góp hơi được lắp cao hơn máy nén và lưu ý một số vấn đề sau Đối với hệ thống có 2 máy nén lắp song song Với hệ thống sử dụng nhiều máy nén thì ống hút phải lấy thẳng từ trên xuống, được vát nhọn như bố trí ở phần trước và sử dụng ống hút dầu riêng biệt cho từng máy nén Ống hút hơi về từng máy nén không được trích từ bên hông hay từ bên dưới và phải được vát nhọn 300 Ngoài ra ta có thể sử dụng thiết bị điều tiết dầu. Thiết bị này hoạt động như sau Khi dầu từ ống hút đến từng máy nén, ngay tại máy nén đầu tiên dầu được hút về khoảng 80-100% và thiết bị này cũng tạo ra tổn thất áp suất làm áp suất cạcte của máy nén sau giảm xuống. Cho nên dầu từ máy nén đầu tiên quay về máy nén còn lại. Phương pháp này có thể sử dụng cho hệ thống lắp song song đến 4 máy nén và chi phí lắp đặt cũng khá rẻ. Thường được sử dụng trong hệ thống máy nén của hãng Danfoss. Đối với đầu đẩy máy nén phải bố trí hơi dốc để dầu có thể đưa về ống góp, nghiêng một góc so với mặt nằm ngang và để cách ly máy nén cần thiết khi sửa chữa thì ta phải lắp thêm van chặn. Ống góp một đầu bịt lại, đầu kia đưa về bình tách dầu. Dầu hồi về máy nén thông qua van solenoid điều khiển bởi van phao trong máy nén. Ống góp phải đều trên cùng đường kính, các ống đẩy của mỗi máy nén càng ngắn càng tốt. 5. Bảo quản dầu bôi trơn Dầu trong hệ thống lạnh phải luôn sạch sẽ khi vào máy nén không giống như dầu nhớt của động cơ nổ dễ bị bẩn do nhiên liệu, nước, cacbon và bụi bẩn . Dầu bôi trơn phải được bảo quản kỹ, đậy chặt nắp trước khi sử dụng, tránh tiếp xúc với không khí vì dễ bị nhiễm ẩm. Dầu xả ra từ hệ thống lạnh như bình bay hơi, bình ngưng tu….. không được sử dụng lại trừ khi được lọc kỹ và sấy khô. Dầu trong máy nén khi nhìn qua kính xem dầu phaỉ luôn luôn trong, khi nó chuyển sang màu trắng như màu sữa thì có nghĩa là dầu đã nhiểm ẩm và nên xả bỏ ra ngoài. Khi động cơ dây quấn trong máy nén kín hay nửa kín bị cháy thì nó gây bẩn và có chứa chất axit có thể nhận biết qua mùi khó chịu, hay bằng giấy thử. Khi kiểm tra phải đeo mắt kiếng và bao tay để không gây nguy hiểm. Nếu chúng có tính axit phải thay thế ngay và rất cẩn thận khi tiến hành, toàn bộ hệ thống nên vệ sinh lại sạch sẽ. Nguồn
Tag Thu hồi dầu, làm sạch dầu trong dung môi lạnh, Làm sạch dầu trong HVAC Máy thu hồi dầu 1. ĐẶC TÍNH DẦU BÔI TRƠN TRONG HỆ THỐNG LẠNH Tính chất vật lý, sự phản ứng hóa học giữa dầu bôi trơn và môi chất lạnh là yếu tố quan tâm hàng đầu đối với hệ thống lạnh nói chung và thiết bị bay hơi nói riêng. Dầu bôi trơn phải làm giảm ma sát, loại bỏ nhiệt lượng sinh ra của chi tiết khi chuyển động và làm chèn kín giữa các ổ trục. Dầu bôi trơn phải đáp ứng được yêu cầu sau – Phải tương thích với môi chất lạnh, không phản ứng và tạo ra các hợp chất lạ trong hệ thống – Hỗn hơp dầu bôi trơn và môi chất lạnh phải ở mức vừa phải để đáp ứng yêu cầu bôi trơn các chi tiết chuyển động – Nhiệt độ đông đặc phải thấp, không chứa các tạp chất như cặn, các chất rỉ sét… – Không được lẫn hơi ẩm vì ẩm, môi chất lạnh, dầu bôi trơn có thể phản ứng tạo các khí lạ hay axit.. – Không được sủi bọt và oxi hóa – Không được dẫn điện khi sử dụng trong máy nén kín và nửa kín Tuy nhiên, dầu bôi trơn không thể đáp ứng các yêu cầu trên. Do đó, tùy từng trường hợp, hệ thống cụ thể mà ta chọn cho thích hợp. Trong đó dầu tổng hợp có thể chịu được nhiệt độ rất cao và thấp, đặc biệt với hệ thống bơm nhiệt 2 BỘ PHẬN TÁCH DẦU Trong quá trình nén, một phần dầu nhớt trên thành xy lanh sẽ đi theo môi chất ra ngoài. Để làm giảm lượng dầu vào hệ thống, phải lắp thêm bình tách dầu tại đầu đẩy máy nén. Nguyên lý của bình tách dầu là làm giảm động năng dòng môi chất bằng những cách như đổi hướng đột ngột, giảm vận tốc, sử dụng bình tách dầu kiểu xy clon…. Phần lớn dầu đựơc tách ra và rơi xuống đáy bình và có thể được hồi về cac te máy nén. Bộ phận tách dầu Lượng dầu hồi về máy nén được điều khiển bằng phao gắn trong đó hay sử dụng ống tiết lưu dầu. Nếu sử dụng ống tiết lưu dầu ta phải gắn thêm van điện từ dể cách ly khi máy nén ngừng làm việc. Khi máy nén ngừng, hơi môi chất áp suất cao còn trong bình tách dầu sẽ ngưng tụ và hòa tan với dầu bôi trơn làm giảm khả năng bôi trơn của nó cho nên ta phải lắp điện trở tại đáy bình. 3 VIỆC TUẦN HOÀN DẦU TRONG HỆ THỐNG LẠNH Dầu bôi trơn đi vào thiết bị ngưng tụ làm giảm đi hệ số truyền nhiệt và đọng lại đáy bình. Hỗn hợp này đi qua van tiết lưu và đi vào vào thiết bị bay hơi. Môi chất lạnh sẽ bay hơi nhưng dầu nhớt vẫn còn đọng lại trong thiết bị. Một phần nhỏ sẽ bay hơi cùng với môi chất lạnh về máy nén. Do dầu bôi trơn làm giảm trao đổi nhiệt thiết bị bay hơi nên ta phải tìm cách khống chế giơí hạn lượng dầu trên. Phương pháp giới hạn việc đọng dầu trong hệ thống phụ thuộc nhiều vào khả năng hòa tan, khối lượng riêng của nó. Bảng dươí đây giúp ta xem xét khả năng hòa tan với từng loại môi chất Môi chất lạnh Tại O0C Tại 350C R134aR22 R717 Hòa tan hoàn toànDầu sẽ nổi trên bề mặt và môi chất lạnh chìm phía dưới Không hòa tan dầu Hòa tan hoàn toànHòa tan hoàn toàn Không hòa tan dầu Qua bảng trên ta thấy, đối với hệ thống sử dụng môi chất R717 dầu sẽ đọng lại dươí đáy bình do khối luợng riêng của nó bé hơn môi chất. Qua yếu tố trên, ta dễ dàng phân biệt hệ thống sử dụng môi chất R717 do sử dụng ống xả dầu đặt tại đáy bình. Dầu sẽ được xả một cách định kỳ trong thời gian hoạt động. Ngược lại, đối với hệ thống sử dụng Freon dầu được hòa tan hoàn trong môi chất. Nhưng trong thiết bị bay hơi tại nhiệt độ thấp, dầu nổi trên bề mặt. Bằng cách một phần nhỏ hỗn hợp dầu và môi chất trên bề mặt rồi dùng nhiệt lượng của môi chất lạnh từ bình ngưng tụ đến để làm bay hơi nên chúng sẽ được tách ra sơ đồ theo hình vẽ dưới Nguyên lý tách dầu Ngoài ra để hồi dầu từ thiết bị bay hơi về máy nén tốt hơn ta phải thiết kế đường ống đảm bảo vận tốc đầu hút không nhỏ hơn 5m/s đối với ống nằm ngang và không được nhỏ hơn 8m/s đối với ống đứng Nếu thiết bị bay hơi đuợc đặt máy nén thì nên sử dụng phương pháp chạy rút môi chất khi dừng máy hoặc ta dùng bẫy chữ U ngược tại ống ra để tránh môi chất chảy về máy nén. Ngược laị nếu máy nén đặt trên thiết bị bay hơi ta phải bố trí bẫy dầu hình chữ U giúp dầu quay lại máy nén dễ dàng. Trong trường hợp TBNT đặt cao hơn máy nén, ta phải lắp bẫy dầu hình chữ U sát máy nén để tránh dầu quay ngược lại đầu đẩy máy nén gây va đập thủy lực. Đường ống đi vào thiết bị ngưng tụ cũng được bố trí hình chữ U ngược ngăn chặn lỏng từ TBNT quay lại máy nén. 4. PHƯƠNG PHÁP BỐ TRÍ ĐƯỜNG ỐNG CHO MÁY NÉN LẮP SONG SONG Phương pháp đơn giản nhất là sử dụng ống cân bằng dầu giữa 2 máy nén. Ống cân bằng được lắp dưới mức dầu để đảm bảo dầu luôn luôn ở mức cân bằng giữa 2 máy nén. Tuy nhiên phương pháp này chỉ sử dụng cho hệ thống nhỏ, bố trí ít máy nén. Đối với hệ thống lớn sử dụng nhiều máy nén thì đường ống hút máy nén phải được thiết kế với tổn thất áp suất như nhau. Ống góp hơi nên đặt thấp hơn máy nén để tránh máy nén hút phải lỏng, ống hút phải thẳng hàng và phải lắp thêm ống hút dầu như sau Ống hút hơi môi chất phải được vát một góc 300 để dầu nhớt có thể rơi xuống ống góp dễ dàng và phải cách đáy ống góp một khoảng nhỏ vài mm tránh hút phải cặn. Đối với hệ thống lắp 2 máy nén song song chỉ dùng 2 máy nén ta có thể bố trí như sau Nếu mặt bằng lắp đặt không cho phép bố trí ống góp hơi nằm bên dươí cho nên ống góp hơi được lắp cao hơn máy nén và lưu ý một số vấn đề sau Đối với hệ thống có 2 máy nén lắp song song Với hệ thống sử dụng nhiều máy nén thì ống hút phải lấy thẳng từ trên xuống, được vát nhọn như bố trí ở phần trước và sử dụng ống hút dầu riêng biệt cho từng máy nén Ống hút hơi về từng máy nén không được trích từ bên hông hay từ bên dưới và phải được vát nhọn 300 Ngoài ra ta có thể sử dụng thiết bị điều tiết dầu. Thiết bị này hoạt động như sau Khi dầu từ ống hút đến từng máy nén, ngay tại máy nén đầu tiên dầu được hút về khoảng 80-100% và thiết bị này cũng tạo ra tổn thất áp suất làm áp suất cạcte của máy nén sau giảm xuống. Cho nên dầu từ máy nén đầu tiên quay về máy nén còn lại. Phương pháp này có thể sử dụng cho hệ thống lắp song song đến 4 máy nén và chi phí lắp đặt cũng khá rẻ. Thường được sử dụng trong hệ thống máy nén của hãng Danfoss. Đối với đầu đẩy máy nén phải bố trí hơi dốc để dầu có thể đưa về ống góp, nghiêng một góc so với mặt nằm ngang và để cách ly máy nén cần thiết khi sửa chữa thì ta phải lắp thêm van chặn. Ống góp một đầu bịt lại, đầu kia đưa về bình tách dầu. Dầu hồi về máy nén thông qua van solenoid điều khiển bởi van phao trong máy nén. Ống góp phải đều trên cùng đường kính, các ống đẩy của mỗi máy nén càng ngắn càng tốt. 5. BẢO QUẢN DẦU BÔI TRƠN Dầu trong hệ thống lạnh phải luôn sạch sẽ khi vào máy nén không giống như dầu nhớt của động cơ nổ dễ bị bẩn do nhiên liệu, nước, cacbon và bụi bẩn . Dầu bôi trơn phải được bảo quản kỹ, đậy chặt nắp trước khi sử dụng, tránh tiếp xúc với không khí vì dễ bị nhiễm ẩm. Dầu xả ra từ hệ thống lạnh như bình bay hơi, bình ngưng tu….. không được sử dụng lại trừ khi được lọc kỹ và sấy khô. Dầu trong máy nén khi nhìn qua kính xem dầu phaỉ luôn luôn trong, khi nó chuyển sang màu trắng như màu sữa thì có nghĩa là dầu đã nhiểm ẩm và nên xả bỏ ra ngoài. Khi động cơ dây quấn trong máy nén kín hay nửa kín bị cháy thì nó gây bẩn và có chứa chất axit có thể nhận biết qua mùi khó chịu, hay bằng giấy thử. Khi kiểm tra phải đeo mắt kiếng và bao tay để không gây nguy hiểm. Nếu chúng có tính axit phải thay thế ngay và rất cẩn thận khi tiến hành, toàn bộ hệ thống nên vệ sinh lại sạch sẽ Tác giả DUY TUE
Nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam VPI tổng hợp nhiều dự án nâng cao thu hồi dầu Enhanced Oil Recovery, EOR đã áp dụng thành công trên thế giới và áp dụng phương pháp phân tích nâng cao như phân tích thành phần chính PCA và kỹ thuật phân cụm K-means để “học kinh nghiệm” từ các dự án này, từ đó tìm ra các tiêu chí và giải pháp EOR phù hợp cho các mỏ dầu đang suy giảm tại Việt Nam. Áp dụng phương pháp PCA và K-means với các mỏ thế giới và Việt Nam trong không gian 3 chiều PC1, PC2 và PC3. Các mỏ dầu đang hoạt động ở thềm lục địa Việt Nam đều được phát triển và khai thác trong đá chứa cát kết thuộc địa tầng Miocene, Oligocene và đá móng phong hóa nứt nẻ trước Đệ tam. Các mỏ dầu này chủ yếu được thiết kế khai thác ban đầu theo chế độ năng lượng tự nhiên đàn hồi của dầu và khí hòa tan. Để nâng cao hệ số thu hồi dầu, giải pháp bơm ép nước duy trì áp suất vỉa ở cả 2 đối tượng cát kết Miocene, Oligocene và đặc biệt móng nứt nẻ trước Đệ tam đã được áp dụng. Công nghệ khai thác thứ cấp – bơm ép nước – cho phép gia tăng đáng kể thu hồi dầu so với khai thác sơ cấp đơn thuần – chỉ sử dụng năng lượng tự nhiên của vỉa. Phương pháp nâng cao thu hồi dầu có thể áp dụng ngay từ giai đoạn đầu đối với các mỏ có hệ số quét tự nhiên thấp, không đủ tạo ra dòng chảy đến giếng khai thác. Bơm ép khí, bơm ép hóa chất hay gia nhiệt… là phương pháp cơ bản được thế giới áp dụng. Ở Việt Nam, các giải pháp nâng cao thu hồi dầu bằng bơm ép thử nghiệm chất hoạt động bề mặt, vi sinh, hóa lý đã được tiến hành cho đối tượng cát kết mỏ Bạch Hổ. Để lựa chọn được phương pháp áp dụng và công nghệ phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cần phân tích các dự án EOR đã áp dụng thành công trên thế giới. Trong bài báo “Nghiên cứu áp dụng các thuật toán khai phá dữ liệu không giám sát để lựa chọn giải pháp nâng cao hệ số thu hồi dầu cho các mỏ dầu đang suy giảm sản lượng” đăng trên Tạp chí Dầu khí, VPI đã giới thiệu kết quả nghiên cứu áp dụng thuật toán khai phá dữ liệu không giám sát – gồm kỹ thuật phân tích thành phần chính Principal Component Analysis, PCA và kỹ thuật phân cụm dựa vào trị số trung bình K-means – vào các dự án EOR thành công trên thế giới để tìm ra các phương pháp EOR phù hợp cho các đối tượng mỏ khác nhau tại Việt Nam. Nghiên cứu này phát triển các module tính toán bằng ngôn ngữ lập trình mã nguồn mở R và Python. Xác định các tiêu chí và phương pháp lựa chọn cho một dự án EOR mới là công việc rất quan trọng để có thể tìm ra được các giải pháp EOR phù hợp và khả thi đối với từng đối tượng. Nghiên cứu của VPI đã thu thập các dự án EOR thành công trên thế giới và tính chất mỏ tương đồng với điều kiện địa chất – khai thác của Việt Nam. Việc áp dụng thuật toán PCA và K-means để học hỏi từ kinh nghiệm trên thế giới sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu sản phẩm công nghệ và triển khai áp dụng thực tiễn cho các mỏ dầu khí đang khai thác tại Việt Nam.
bình thu hồi dầu