Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu phải đáp ứng yêu cầu chất lượng. 1. Đối với thức ăn chăn nuôi đã có trong Danh mục thức ăn chăn nuôi được phép lưu hành tại Việt Nam, khi nhập khẩu, tổ chức, cá nhân làm thủ tục tại cơ quan hải quan và thực hiện kiểm tra chất lượng.
Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu Việt Nam 11 tháng đầu năm 2019 giảm 4,1%. Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 11/2019 đạt 232 triệu USD, giảm 30,91% so với tháng trước đó và giảm 26,83% so với
Số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan cho thấy, 8 tháng năm 2022 lượng lúa mì nhập khẩu của cả nước đạt 2,88 triệu tấn, trị giá đạt tương đương trên 1,09 tỷ USD.
Thủ tục nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi - 0903 587 699 Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017. Trong xu thế hội nhập quốc tế, hoạt động sản xuất giảm các tác động tới môi trường đang được các doanh nghiệp hướng tới. Nếu doanh nghiệp có cách thức quản lý thích hợp
Kiến thức chăn nuôi gà; Kiến thức chăn nuôi vịt, ngan; Kiến thức chăn nuôi bò; Kiến thức chăn nuôi thủy, hải sản; Kiến thức chăn nuôi chim cút; Thông tin. Tin nổi bật; Tin nội bộ; Thị trường nhập khẩu; Thị trường Thức ăn chăn nuôi; Tuyển dụng; Thư viện ảnh
Giá nguyên liệu thức ăn chăn nuôi từ 16-24/8/2022. 07/09/2022 [Tạp chí Chăn nuôi Việt Nam] - Trong tuần, giá ngô, lúa mỳ và đậu tương tại Mỹ giảm tại các thị trường Mỹ và Nam Mỹ so với tuần trước do Nam Mỹ đang vào vụ thu hoạch ngũ cốc, nguồn cung tăng. Nhập khẩu
LXRBkd. Thủ tục nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Nay mình xin chia sẽ tơi các bạn về thủ tục nhập khẩu nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi như bột cá, bột xương thịt, bột huyết, bột lông vũ… Hiện tại thì Việt Nam mình nhập khẩu rất nhiều bột cá, bột xương thịt, bột huyết, bột lông vũ, nhưng không phải ai cũng rành về thủ tục nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và biết được các công ty nào có thể phép nhập khẩu vào Việt Nam, Nay mình xin chia sẽ tới các bạn những nội dung chính là thuế nhập khẩu, thuế VAT và thủ tục như thế nào ? giấy tờ cần những gì ? để hoàn thành được một lô thủ tục nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Đầu tiên mình muốn nhập khẩu được thức ăn chăn nuôi thì bạn cần check thử xem công ty bạn định nhập nó có nằm trong danh mục các công ty được phép nhập vào VN không đã. để check được điều này thì mình có thể gọi ra cục thú y để được tư vấn chính xác nhất, nhưng đối với mình thì mình sẽ không làm vậy mà đọc TT04/2015 BNNPTNT sẽ được biết chi tiết. Giả sử bạn đã kiểm tra công ty đó cho phép nhập khẩu vào VN rồi thì tiếp theo bạn sẽ làm một bộ hồ sơ gửi ra cục thú ý, để được xin phép kiểm dịch nhập khẩu cho lô hàng, khi hàng về cảng ở Việt Nam, nếu bạn ở HCM thì đó là vùng VI. thời gian xin phép kể từ khi nộp hồ sơ qua đường bưu điện là 5 ngày làm việc, Thường mình xin là 3 ngày Hồ sơ bao gồm Mẫu đơn xin kiểm dịch nằm trong thông tư 04theo mẫu số 06/CN. Mẫu Healthy. Giấy phép đăng ký kinh doanh. Chuẩn bị bộ hồ sơ này và nộp ra ngoài cục thú y là ok. Trong thời gian chờ phản hồi thì ngoài cục sẽ gửi mail cho bên bạn để xác nhận thông tin và cũng dùng email này mà gửi giấy phép về cho bên mình. Bạn làm xong bước xin phép kiểm dịch rồi thì coi như ok, bạn cho hàng về được rồi đó. Khi hàng về đến cảng mình sẽ làm tiếp công đoạn gì đây ? đó là đăng ký qua hệ thông thông tin một cửa để upload thông tin lên hệ thông 1 cửa quốc gia, để được đăng ký kiểm tra chất lượng. cái này hơi khó chia sẽ vì nó thao tác trên máy tính nhiều bạn làm quen thì rất đơn giản, không thì hiểu nôm na là attach file và gửi mail lên hệ thống thông tin một cửa về lô hàng của mình, đợi phản hồi cấp phép người đi lấy mẫu tại cảng, chỉ vậy thôi !!! đừng hiểu sâu xa !! để dịch vụ bọn em hiểu cho ^^hihi Sau khi có thông tin phản hồi từ hệ thống một cửa thì mình tiến hành mở tờ khai hải quan tại chi cục hải quan hàng về, nếu HCM là cát lái port. Hồ sơ bao gồm invoice, packing list, Form , tờ khai điện tử, đơn đăng ký kiểm dịch, bill of lading. cung cấp cho hải quan như vậy là ok, ak quên nhớ là công văn mang hàng về kho bảo quản nửa chứ. vậy là ok rồi, kéo hàng về kho, đợi có kết quả kiểm nghiệm và thông quan hàng thôi, bán hàng lấy tiền nhưng nhớ là thanh toán tiền cho bên dịch vụ nữa nhé,,, hịhi Về thuế Nhâp khẩu hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thì sẽ có thuế Nhập khẩu là 0% và VAT là 5%. hs code tham khảo 9- Nguyên liệu có nguồn gốc động vật – Bột xương – Bột thịt xương – Bột sữa gầy – Bột máu – Bột lông vũ – Bột phụ phẩm chế biến thịt HS CODE Nói tóm lại là làm hàng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi,nguyên liệu thì sẽ gồm xin phép kiểm dịch ở HN, cho hàng về và làm kiểm tra chất lượng, kết quả ok thì thông quan, vậy thôi, nhưng nhớ là kiểm tra tên công ty xuất hàng cho thật kỹ nhé, xem nó có nằm trong danh sách cho phép xuất khẩu vào Việt Nam hay không nhé. nói chung là hỏi shipper mã code mày nhập khẩu vào VN đâu, gửi tao xem, nó có thì ok không có thì nghĩ chơi, tìm người khác vậy !!! Sharing is Giving !! Mr Hiếu skype
“Ăn đong” nguyên liệu, phát triển không bền vững Có rất nhiều vấn đề của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước được các đại biểu phân tích và kiến nghị giải pháp cho Bộ NN-PTNT trong buổi tọa đàm "Giải pháp phát triển nguồn nguyên liệu, tận dụng phụ phẩm sản xuất thức ăn chăn nuôi, giảm phục thuộc nhập khẩu" diễn ra chiều tại Hà Nội. Báo cáo từ Cục Chăn nuôi cho biết, trong khoảng 10 năm qua, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam liên tục tăng trưởng bình quân từ 13 - 15%, giúp Việt Nam giữ vị trí số 1 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 10 thế giới về quy mô sản xuất thức ăn chăn nuôi. Các đại biểu chia sẻ nhiều giải pháp chủ động tạo nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước CTV Nhưng trái ngược với “thành tích này”, người chăn nuôi trong nước thời gian qua đang khốn đốn khi giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao trong khi giá sản phẩm chăn nuôi sụt giảm thê thảm. Trong khi đó, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện nay phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2020, Việt Nam đã chi tới 6 tỉ USD để nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi nhưng giá trị xuất khẩu thịt chỉ đạt hơn 1 tỉ USD. Báo cáo từ Bộ Nông nghiệp Mỹ công bố gần đây cũng công nhận Việt Nam là cường quốc nhập khẩu ngô để phục vụ sản xuất thức ăn phục vụ ngành chăn nuôi trong nước. Mỹ dự báo năm 2021 - 2022, Việt Nam là quốc gia nhập khẩu ngô đứng thứ 5 toàn cầu. Ngành chăn nuôi bò sữa trong nước đã chủ động sản xuất tại chỗ được nhiều loại thức ăn chăn nuôi Tập đoàn TH Bình luận về những thông tin này, TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, cho rằng dù tăng tưởng mỗi năm đều ở mức 2 con số nhưng thực tế cho thấy, phải “ăn đong”, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của thế giới nên đây là sự phát triển không bền vững. Nhiều năm qua, Việt Nam là điểm đến đầu tư của rất nhiều "ông lớn" trên thế giới trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, họ liên tục mở rộng quy mô sản xuất vì nước ta đang là thị trường kinh doanh béo bở. “Giá thức ăn chăn nuôi tăng cao thời gian không hẳn chỉ là tác động của dịch Covid-19. Doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm 30% về số lượng nhưng lại nắm tới 65% thị trường và giá bán nhiều năm nay chỉ có tăng chứ không giảm. Nguyên liệu sản xuất nếu còn “ăn đong”, phụ thuộc vào nước ngoài sẽ không phát triển bền vững”, ông Sơn nói. Chuyển đổi cây trồng tạo vùng nguyên liệu, tận dụng phụ phẩm Ông Tống Xuân Chinh, Cục phó Cục Chăn nuôi, cho biết nhu cầu thức ăn chăn nuôi sử dụng rất lớn, mỗi năm từ 32 - 33 triệu tấn, trong đó chỉ có 7 triệu tấn là người chăn nuôi sử dụng phụ phẩm, nguyên liệu tự trồng để tự phối trộn và khoảng 20 triệu tấn là thức ăn công nghiệp. Trong khi đó, nguồn phụ phẩm nông nghiệp rất lớn nhưng chưa thể tận dụng được. Cụ thể, ngành trồng trọt mỗi năm có 88,9 triệu tấn phụ phẩm với nhiều loại có thể sử dụng là nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn chăn nuôi nhưng hiện chỉ tận dụng được 52%. Ngoài ra, có hàng chục triệu tấn phụ phẩm ở ngành giết mổ gia súc, gia cầm, chế biến hải sản… có thể tận dụng sản xuất protein làm thức ăn bổ sung nhưng đều bị bỏ phí. Tập đoàn TH đang liên kết với hàng nghìn hộ nông dân Nghệ An trồng ngô sinh khối cung cấp nguyên liệu sản xuất thức ăn cho bò sữa Tập đoàn TH Còn theo đại diện Cục Trồng trọt, các doanh nghiệp trong nước đã quan tâm nhiều hơn đến tạo nguồn nguyên liệu thức ăn trong nước. Đặc biệt trong ngành chăn nuôi bò sữa, doanh nghiệp đã liên kết với nông dân chuyển đổi trồng ngô hạt sang trồng ngô sinh khối, cỏ chủ động thức ăn cho đàn bò và nông dân có thu nhập cao. Theo bà Hạ Thúy Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, đơn vị này đang đẩy mạnh dự án kinh tế tuần hoàn, sử dụng phế phụ phẩm trong nông nghiệp để làm thức ăn chăn nuôi, điển hình là rơm ủ chua nuôi bò. Tại Việt Nam, chăn nuôi nông hộ chiếm tỷ lệ rất lớn và bà con có thể tận dụng thức ăn tại chỗ, nếu tận dụng tốt phế phụ phẩm sẽ mang lại hiệu quả cho chăn nuôi. “Các nông hộ cần tận dụng diện tích để trồng ngô sinh khối hoặc trồng cỏ để làm thức ăn chăn nuôi và áp dụng các gói kỹ thuật cân đối khẩu phần thức ăn, giảm phục thuộc vào thức ăn công nghiệp”, bà Hạnh nói. Theo TS Nguyễn Thanh Sơn, nếu quyết tâm và có giải pháp đồng bộ thì không khó để từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Chính phủ cần có chiến lược tổng thể phát triển nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước và đặt mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn, từng sản phẩm nguyên liệu đi kèm giải pháp về vốn tín dụng ưu đãi, thuế, đất đai, khoa học công nghệ... Đối với ngành nông nghiệp, ông Sơn kiến nghị "Có thể chuyển trồng một số giống lúa chất lượng thấp nhưng có năng suất cao để làm thức ăn chăn nuôi; đưa ngô sinh khối, ngô biến đổi gene vào sản xuất; tận dụng nguồn cám gạo làm nguyên liệu thức ăn; phải tăng diện tích trồng đỗ tương; ứng dụng công nghệ vào sản xuất bột cá nhạt để phát triển nhóm nguyên liệu giàu đạm trong nước…”. "Chốt” lại buổi tọa đàm, ông Tống Xuân Chinh cho biết hiện Bộ NN-PTNT giao Cục Chăn nuôi xây dựng dự thảo Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, trong đó có giải pháp rất quan trọng là tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp với khối lượng lên đến hàng trăm triệu tấn.
Trong năm 2022, có 916 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi về Việt Nam, giảm 17 doanh nghiệp so với năm 2021. Trong đó, doanh nghiệp nhập khẩu đạt kim ngạch cao nhất là Công ty Cổ Phần Chăn Nuôi Việt Nam, với 409 triệu USD; tiếp đến là Công ty Cổ phần Khai Anh – Bình Thuận đạt 344,9 triệu USD; Công ty TNHH Cargill Việt Nam với 292 triệu USD… KHÔ ĐẬU TƯƠNG CHIẾM MỘT NỬA TRONG TỔNG NGUYÊN LIỆU NHẬP KHẨU Trong năm 2022, Việt Nam nhập khẩu 39 chủng loại thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, giảm 2 chủng loại so với năm 2021. Lượng nhập khẩu một số chủng loại chính tăng mạnh so với năm 2021 như Bột thịt xương, bột gia cầm, bột huyết tương, bột tôm, cám ngô, khô dầu dừa… Trong khi đó, lượng nhập khẩu một số chủng loại chính giảm so với năm 2021 như khô đậu tương, khô dầu cọ, bột cá, cám gạo, cám mỳ… Giá nhập khẩu trung bình nhiều mặt hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong năm 2022 hầu hết tăng so với năm 2021. Một số mặt hàng có mức tăng dưới 10% như Khô hướng dương, khô dầu cọ, khô dầu dừa, khô hạt cải, bột gan mực… Những chủng loại mặt hàng có giá nhập khẩu tăng từ 10% đến trên 20% gồm Khô đậu tương, khô dầu lạc, bột thịt xương, bột gia cầm, bột cá, bột bánh mỳ, cám ngô, cám gạo, cám mỳ, bột huyết tương, bột lông vũ… "Năm 2022, những chủng loại mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có giá nhập khẩu tăng từ 10% đến 20% gồm Khô đậu tương, khô dầu lạc, bột thịt xương, bột gia cầm, bột cá, bột bánh mỳ, cám ngô… Một số mặt hàng giá nhập khẩu tăng trên 20% là cám gạo, cám mỳ, bột huyết tương, bột lông vũ…" Theo Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại của Bộ Công thương. Riêng khô đậu tương chiếm 48,5% về lượng và 50,1% về trị giá trong tổng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong năm vừa qua. Khối lượng khô đậu tượng nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2022 đạt 5,01 triệu tấn, trị giá 2,81 tỷ USD, giảm 0,3% về lượng nhưng tăng 12% về trị giá so với năm 2021. Nguồn cung cấp chính khô đậu tương là Nam Mỹ và Hoa Kỳ. Giá nhập khẩu trung bình khô đậu tương trong năm 2022 ở mức 560 USD/tấn, tăng 12,3% so với năm 2021. Lượng khô dầu cọ nhập khẩu trong năm 2022 đạt 591,9 nghìn tấn, trị giá 122,3 triệu USD, giảm 9,1% về lượng và giảm 1,2% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu khô dầu cọ trong năm 2022 đạt 207 USD/tấn, tăng 8,7% so với năm 2021. Khối lượng nhập khẩu khô hạt cải trong năm 2022 đạt 276,4 nghìn tấn, trị giá 102,7 triệu USD, giảm 4,5% về lượng và giảm 0,1% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình mặt hàng này trong năm 2022 đạt 371 USD/tấn, tăng 4,6% so với năm 2021. Đối với cám ngô, trong năm 2022 nước ta nhập khẩu 174,8 nghìn tấn, trị giá 51,3 triệu USD, tăng 21,5% về lượng và tăng 35,1% về trị giá so với năm 2021. Giá trung bình cám ngô nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2022 đạt 293 USD/tấn, tăng 11,1% so với năm 2021. Trong năm 2022, nhập khẩu cám mỳ đạt 391,4 nghìn tấn, giảm 15,3% so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình cám mỳ năm 2022 ở mức 276 USD/tấn, tăng 21,1% so với 2021. Trong năm 2022, lượng nhập khẩu cám gạo về Việt Nam đạt 542,9 nghìn tấn, trị giá 118,2 triệu USD, giảm 4,3% về lượng, nhưng tăng 15,3% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình cám gạo trong năm 2022 ở mức 218 USD/tấn, tăng 20,5% so năm 2021. Với nhóm bột protein động vật, trong năm 2022, nhập khẩu bột thịt xương về Việt Nam đạt 787 nghìn tấn, trị giá 433,7 triệu USD, tăng 18,2% về lượng và tăng 32,7% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột thịt xương trong năm 2022 ở mức 551 USD/tấn, tăng 12,3% so với năm 2021. Nguồn cung cấp bột thịt xương là Mỹ và EU. Nhập khẩu bột gia cầm trong năm 2022 đạt 238,3 nghìn tấn, trị giá 227,7 triệu USD, tăng 16,3% về lượng và tăng 28,8% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột gia cầm trong năm 2022 ở mức 956 USD/tấn, tăng 10,7% so với năm 2021. Nhập khẩu bột cá trong năm 2022 đạt 129,7 nghìn tấn, giảm 4,7% so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột cá trong năm 2022 ở mức USD/tấn, tăng 18,4% so với năm 2021. Đối với nhóm Protein tổng hợp, trong năm 2022, lượng nhập khẩu dinh dưỡng gia súc đạt 1,4 triệu tấn, trị giá 521,1 triệu USD, tăng 0,2% về lượng và tăng 19,1% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình dinh dưỡng gia súc trong năm 2022 ở mức 373 USD/tấn, tăng 18,9% so với năm 2021. Ngoài ra, nhóm chất tổng hợp và bổ trợ nhập khẩu 548,4 triệu USD, tăng 0,3% so với năm 2021. NỖ LỰC GIẢM NHẬP KHẨU Trong năm 2022, Việt Nam nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ 98 quốc gia, tăng 11 quốc gia so với năm 2021. Trong đó, Achentina là nước cung cấp thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu lớn nhất cho Việt Nam trong năm 2022, đạt 3,01 triệu tấn, trị giá 1,67 tỷ USD, giảm 8,2% so với năm 2021 và chiếm 29,2% về lượng và chiếm tỷ trọng 30,4% trong tổng nhập khẩu của toàn bộ nhóm mặt hàng này. Mặt hàng nhập khẩu chính từ Achentina là khô đậu tương, dinh dưỡng gia súc, bột thịt xương, bột lông vũ… Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Achentina trong năm 2023 dự báo đạt 3,2 triệu tấn, trị giá 1,6 tỷ USD. Braxin là nước cung cấp thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu lớn thứ 2 cho Việt Nam trong năm 2022 với lượng và trị giá tăng mạnh, đạt 1,77 triệu tấn, trị giá 1,03 tỷ USD, tăng 41,4% về lượng và tăng 56,9% về trị giá so với năm 2021. Nhập khẩu từ nước này chiếm 17,2% về lượng và 18,7% về trị giá trong nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam. Mặt hàng nhập khẩu chính từ Braxin là khô đậu tương, bột gia cầm, bột lông vũ… Trong buổi làm việc giữa lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các nông dân chăn nuôi tại Đồng Nai mới đây, các chủ trang trại đều phản ánh tình trạng giá thức ăn chăn nuôi quá cao, trong khi giá thịt lợn hơi đang giảm, khiến chăn nuôi đang bị thua lỗ. Theo bà Nguyễn Thị Hương, Giám đốc Công ty TNHH MTV Hương Vĩnh Cửu, giá thành heo hơi trong nước hiện khoảng đồng/kg, bằng giá thịt heo nhập khẩu đã pha lóc như cốt-lết, nạc vai... nên rất khó cạnh tranh. “Lượng nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam trong năm 2023 dự báo tương đương năm 2022, trị giá 2,7 tỷ USD do giá nhập khẩu giảm so với năm 2022. Lượng nhập khẩu dinh dưỡng gia súc nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2023 dự báo đạt khoảng 1,5 triệu tấn, với giá nhập khẩu trung bình 365- 370 USD/tấn”. Ông Dương Tất Thắng, Cục trưởng Cục Chăn nuôi - Bộ Nong nghiệp và Phát triển nông thôn. Chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người chăn nuôi, ông Dương Tất Thắng - Cục trưởng Cục Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng không riêng ở Việt Nam, mà giá heo hơi các nước cũng giảm, thậm chí mức giảm mạnh hơn Việt Nam. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, giá heo hơi hồi tháng 10/2022 là đồng/kg, nay còn đồng/kg, dù nước này đã mở cửa trở lại. "Sang quý 2/2023, giá thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ giảm, phần nào gỡ khó cho hộ nuôi gia súc, gia cầm", ông Dương Tất Thắng nhận định, đồng thời cho biết hiện nay, hầu hết thuế nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đã được đưa về 0%; chỉ còn riêng mặt hàng khô dầu đậu tương còn chịu mức thuế 2% và đang được kiến nghị đưa về 0%. Trong khi giá nhập khẩu một số chủng loại nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đã giảm so với năm 2022 như đậu tương, lúa mỳ, ngô… Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến, ngành nông nghiệp đã có chỉ đạo quyết liệt trong việc phát triển vùng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Tây Nguyên bắp, khoai mì để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý đã tích cực hỗ trợ doanh nghiệp các thủ tục xuất khẩu. Mới đây, Công ty CP Ba Huân đã xuất khẩu thành công trứng gà tươi sang Hồng Kông - Trung Quốc với khối lượng 1 container/tuần. “Để nâng cao năng lực cạnh tranh, người chăn nuôi phải liên kết, đầu tư sản xuất cho khâu giống; phương thức chăn nuôi cũng phải thay đổi, tiếp cận công nghệ mới khép kín, tự động hóa; xử lý được vấn đề môi trường. Ngành chăn nuôi cũng phải quan tâm đầu tư sơ chế, chế biến, đa dạng hóa sản phẩm gắn với chuỗi phân phối để đáp ứng tốt nhu cầu thị trường”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khuyến cáo.
Danh sách Top 10 công ty Thức ăn chăn nuôi uy tín năm 2021 Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty Thức ăn chăn nuôi uy tín năm 2021, tháng 12/2021 Chăn nuôi là một trong những ngành kinh tế quan trọng, nhiều tiềm năng của Việt Nam, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi TACN công nghiệp ở Việt Nam cũng đã tăng trưởng ngoạn mục, đạt bình quân từ 13%-15%/năm. Tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp từ 10,8 triệu tấn năm 2010 đã tăng lên gần gấp đôi vào năm 2020, đạt 20,3 triệu tấn. Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 10 thế giới và số 1 khu vực Đông Nam Á về sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp, xếp trên cả Thái Lan và Indonesia. Với tiềm năng phát triển cao, ngành TACN của Việt Nam đã thu hút nhiều doanh nghiệp gia nhập ngành, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang không ngừng mở rộng quy mô, tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt trong ngành. Đánh giá tác động của đại dịch Covid-19 đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ngành TACN trong năm 2021 Mặc dù ngành thức ăn chăn nuôi không bị ảnh hưởng nặng nề như một số ngành khác do tác động của đại dịch, nhưng vẫn chịu tác động trên cả khía cạnh cung và cầu. Trước tác động của dịch bệnh đã ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tại các bếp ăn công nghiệp, hay trường học, nhà hàng, khách sạn giảm cũng làm cho giá đầu ra của sản phẩm chăn nuôi giảm tương đối sâu, không chỉ gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi, mà còn khiến những đại lý kinh doanh thức ăn gia súc, doanh nghiệp sản xuất thức ăn gặp nhiều khó khăn. Ở phía đầu vào, cũng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp sản xuất TACN rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu bởi ngành vận tải biển và đường bộ gặp khó khăn ở khâu kiểm soát dịch bệnh khắt khe tại các nước xuất khẩu, chi phí vận chuyển tăng tương đối nhiều dẫn đến chi phí nguyên liệu TACN tăng từ 20%-30%, làm giá thành TACN cũng tăng theo đó. Tại Việt Nam chi phí thức ăn chiếm khoảng từ 80-85% giá thành chăn nuôi, trong khi nguồn cung thức ăn chăn nuôi lại phụ thuộc phần lớn từ nhập khẩu, lên đến 70-80% với các mặt hàng ngô, lúa mì, đậu tương. Tuy chịu tác động của đại dịch Covid-19 nhưng trong 10 tháng năm 2021 kim ngạch nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu vẫn tiếp tục gia tăng và đã đạt gần 4,14 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2020. Hình 1 Giá trị xuất nhập khẩu TACN và nguyên liệu các năm Nguồn Tổng cục Thống kê Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi phải chi nhiều hơn cho các biện pháp phòng chống dịch bệnh để đảm bảo an toàn cho nhân viên và hoạt động của họ như chi phí xét nghiệm Covid-19, thực hiện phương án 3 tại chỗ, hỗ trợ người lao động nằm trong khu cách ly, khu phong tỏa, chi phí tăng ca do thiếu hụt lao động Trước những áp lực gia tăng chi phí trong khi giá sản phẩm bán ra không tăng tương ứng đã tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các doanh nghiệp TACN. Kết quả khảo sát của Vietnam Report với doanh nghiệp về tác động của đại dịch Covid-19 đến ngành TACN đã ghi nhận 85,71% doanh nghiệp đánh giá tình hình kinh doanh bị xấu đi một chút. Để vượt qua giai đoạn khó khăn này, các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đã tái cơ cấu hoạt động, nỗ lực duy trì hoạt động kinh doanh để cung cấp cho người chăn nuôi những sản phẩm chất lượng và tiến lên phía trước. Đánh giá uy tín truyền thông của các doanh nghiệp ngành TACN Top 10 chủ đề xuất hiện trên truyền thông năm nay có sự thay đổi với việc bổ sung thêm chủ đề Đầu tư, các chủ đề Hình ảnh/Pr/Scandal, Sản phẩm, Chiến lược kinh doanh/M&A đều có sự tăng tần suất thông tin so với thời gian nghiên cứu của năm 2020. Điều này cho thấy rõ những dấu ấn nổi bật của ngành TACN qua lăng kính truyền thông. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng tới nền sản xuất của nhiều nước trên thế giới, nhiều doanh nghiệp trong nước đang loay hoay thoát khỏi khủng hoảng nguyên liệu, duy trì sản xuất thì một số doanh nghiệp nước ngoài vẫn tiếp tục xây dựng thêm nhà máy để tăng sản lượng. Các hoạt động mua bán và sáp nhập, quan hệ hợp tác của các công ty trong và ngoài nước được thúc đẩy bởi nhu cầu vẫn diễn ra mạnh mẽ, và điều này không hề chậm lại trong thời kỳ đại dịch. Hình ảnh các doanh nghiệp trong ngành TACN chung tay cùng Chính phủ trong cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh Covid, khắc phục hậu quả bão lũ đã giúp cho nhóm chủ đề Hình ảnh/Pr/Scandal vươn lên vị trí dẫn đầu về tần suất xuất hiện. Xét về tin tích cực – tiêu cực theo chủ đề 7 trong 10 chủ đề ở trên có tỷ lệ tin tiêu cực giảm xuống so với thời gian nghiên cứu của năm 2020, bao gồm Hình ảnh/PR/Scandal; Sản phẩm; Chiến lược kinh doanh/M&A; Cổ phiếu; Vị thế thị trường; Đầu tư; Quản trị. Chủ đề Tài chính/Kết quả kinh doanh có tỷ lệ tin tiêu cực cao nhất với 20,65%. Hình 2 Top 10 chủ đề xuất nhiều nhất trên truyền thông Nguồn Vietnam Report, Dữ liệu Media Coding ngành Thức ăn chăn nuôi từ tháng 10/2020 đến tháng 10/2021 Xét tỷ lệ tin tích cực theo tháng từ tháng 10/2019 đến tháng 10/2021 có sự biến động rất nhiều giữa các tháng, nhất là các thời điểm bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid, dịch tả Châu Phi, như trong năm 2021 là các tháng 7, 8 thực hiện giãn cách xã hội và tháng 10 là thời gian công bố báo cáo tài chính quý 3. Hình 3 Tỷ lệ tin tích cực – tiêu cực theo tháng Nguồn Vietnam Report, Dữ liệu Media Coding ngành Thức ăn chăn nuôi từ tháng 10/2019 đến tháng 10/2021 Về chất lượng thông tin, doanh nghiệp được đánh giá là "an toàn" khi đạt tỷ lệ chênh lệch thông tin tích cực và tiêu cực so với tổng lượng thông tin được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng “tốt nhất” là trên 20%. Tỷ lệ số doanh nghiệp có thông tin mã hóa, đạt ngưỡng trên 20% là 78,57%, một tỷ lệ rất cao và vượt so với mức 66,7% trong giai đoạn nghiên cứu của năm trước. Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp TACN Khi đánh giá ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi, Vietnam Report sử dụng mô hình thang Li-kert 5 điểm. Kết quả khảo sát của năm trước chỉ ra cạnh tranh thị phần giữa các doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng nhất đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo, nhưng trong khảo sát của Vietnam Report được thực hiện vào tháng 11 năm nay, yếu tố diễn biến dịch bệnh, khí hậu; biến động giá nguyên vật liệu đầu vào; khả năng hồi phục của nền kinh tế là ba yếu tố ảnh hướng nhất; tiếp sau đó mới là yếu tố cạnh tranh thị phần. Không chỉ đại dịch Covid-19, dịch tả lợn Châu Phi cũng là mối đe dọa tiềm tàng khiến các cơ quan chính phủ, người chăn nuôi lợn và tất cả các bên liên quan trong ngành lo ngại trong năm 2022. Hình 4 Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp TACN Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 và tháng 10/2020 Việc tăng giá thức ăn chăn nuôi thời gian qua là do nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thế giới giảm, nguồn cung trong nước hạn chế, chi phí vận chuyển tăng cộng thêm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu khiến sản lượng một số loại ngũ cốc chính của một số quốc gia sụt giảm. Biến đổi khí hậu đã làm một số nước là đối tác cung cấp nguyên liệu TACN chính cho Việt Nam như Mỹ, Argentina, Brazil, bị khô hạn nên diện tích ngô, lúa mì, đậu tương phải thu hẹp làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và giá. Theo Tổng cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 10/2021 đạt 819 nghìn tấn ngô, giảm 15% về lượng và tăng 21% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Thời tiết khắc nghiệt và những rủi ro do biến đổi khí hậu không thể đoán trước tạo ra thách thức với sự phát triển của cây trồng nguyên liệu và sức khỏe vật nuôi, đồng thời đặt ra những yêu cầu cho doanh nghiệp trong chuỗi chăn nuôi cần phải tăng cường sự chú trọng vào sản xuất nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường trong năm tới. Đánh giá sự cạnh tranh trong ngành TACN theo mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter cho thấy áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là cao nhất; các áp lực về đối thủ cạnh tranh tiềm năng, khả năng thương lượng của nhà cung ứng, khả năng thương lượng của khách hàng mức trung bình và sự đe dọa từ sản phẩm thay thế chỉ ở mức thấp. Theo dữ liệu của Cục chăn nuôi tính đến tháng 7/2021, ngành TACN có 265 doanh nghiệp, khối FDI có 89 doanh nghiệp, khối doanh nghiệp trong nước có 176 doanh nghiệp, nhưng sản lượng của doanh nghiệp FDI trong năm 2020 chiếm 59,8% và doanh nghiệp trong nước chiếm 40,2%. Các doanh nghiệp FDI không chỉ vượt trội về thị phần mà hầu hết đều có chiến lược kinh doanh bài bản với chuỗi sản xuất kinh doanh khép kín và nguồn lực tài chính mạnh. Điều này thúc đẩy những doanh nghiệp không đi theo hướng chiến lược xây dựng và vận hành trang trại phải xem xét chiến lược khác và cần đầu tư về công nghệ, cải tiến kỹ thuật và năng suất để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, giành lại thị phần. Hình 5 Đánh giá 5 áp lực cạnh tranh với ngành TACN của Việt Nam Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành TACN, tháng 11 năm 2021 Những thách thức của ngành thức ăn chăn nuôi trong thời kỳ bình thường tiếp theo dưới tác động của đại dịch Mặc dù ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi đã được chứng minh là có khả năng chống chọi khá tốt trong cuộc khủng hoảng Covid-19 so với các ngành kinh tế khác, nhưng đại dịch hiện nay vẫn đang lan rộng và nguy cơ bùng phát các đại dịch khác sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến ngành thức ăn chăn nuôi vào năm 2022. Trong suốt chuỗi giá trị, các bên liên quan trong ngành thức ăn chăn nuôi phải thực hiện các thủ tục, đào tạo và trang thiết bị để bảo vệ nhân viên và ngăn chặn sự lây lan của vi rút, cũng như duy trì mức độ sản xuất và dịch vụ của họ. Vào đỉnh điểm của đại dịch Covid-19, tất cả các ngành công nghiệp trên toàn thế giới đều phải trải qua những tác động của chuỗi cung ứng vô cùng thách thức. Sự tắc nghẽn của chuỗi cung ứng toàn cầu đã dẫn đến chi phí nguyên liệu và phụ gia thức ăn chăn nuôi cao, điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngành thức ăn chăn nuôi trong năm mới. Kết quả đánh giá từ chuyên gia và doanh nghiệp của Vietnam Report về những thách thức đối với ngành TACN do tác động của đại dịch trong năm 2022 đã chỉ ra 4 thách thức lớn nhất là i Đứt gãy chuỗi cung ứng trong sản xuất, kinh doanh; ii Sự leo thang trong chi phí nguyên liệu; iii Thay đổi thói quen người tiêu dùng; iv Chi phí cho lưu thông, vận chuyển hàng hóa. Hình 6 Đánh giá những thách thức đối với ngành TACN do tác động của đại dịch Covid-19 trong năm 2022 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Covid-19 đã tác động đến nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng, làm tăng sự quan tâm của người tiêu dùng đối với chuỗi cung ứng thực phẩm, người tiêu dùng ngày càng có mong muốn về sự minh bạch của nguồn gốc thực phẩm và cách sản xuất thịt, sữa và trứng của họ. Điều này sẽ dẫn đến nhu cầu tăng lên đối với sản xuất bền vững, phúc lợi động vật và không có kháng sinh cho động vật, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải nghiên cứu, cải tiến sản phẩm thức ăn chăn nuôi như việc gia tăng các thành phần và phụ gia thức ăn chăn nuôi chất lượng cao. Ngoài ra, sự thay đổi ngày càng tăng đối với việc áp dụng chế độ ăn thuần chay dự kiến sẽ cản trở sự tăng trưởng của thị trường thức ăn chăn nuôi trong giai đoạn dự báo và những năm sắp tới. Triển vọng ngành Thức ăn chăn nuôi Theo đánh giá của doanh nghiệp TACN trong khảo sát của Vietnam Report, việc ứng phó với dịch của Chính phủ là sống chung với Covid là phù hợp, giúp cho chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ giảm xuống, các nhà hàng, bếp ăn, các nhà máy sản xuất hoạt động trở lại, nhu cầu thực phẩm sẽ tăng lên, và ngành TACN cũng có triển vọng tốt hơn. Bên cạnh đó, vấn đề kiểm soát ảnh hưởng rất nhiều giá TACN, khi nhiều quốc gia xác định sống chung, các nước nới lỏng vấn đề quản lý, giúp cho chi phí vận tải biển giảm xuống và khi dịch được kiểm soát tốt hơn thì ngành TACN cũng có triển vọng tốt hơn. Theo định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2022, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng khoảng 5,5-6,0%; sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp quy đổi 22,5 triệu tấn. Kết quả khảo sát của Vietnam Report về triển vọng của ngành TACN trong năm tới, đã ghi nhận 57,1% doanh nghiệp đánh giá tăng trưởng khả quan, tốt hơn một chút; 14,29% đánh giá duy trì tốc độ tăng trưởng và 28,57% đánh giá tăng trưởng sẽ thấp hơn một chút do những lo ngại về đại dịch Covid-19 vẫn tiếp tục gây ra nhiều khó khăn đối với ngành chăn nuôi, chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, giá sản phẩm chăn nuôi bán ra vẫn ở mức thấp có khả năng hạn chế tăng trưởng sản xuất, mở rộng tái đàn. Hình 7 Đánh giá tiềm năng tăng trưởng của ngành TACN trong năm 2022 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Trong trung và dài hạn, ngành chăn nuôi vẫn được đánh giá là có nhiều triển vọng phát triển. Theo dữ liệu của FAO, sản lượng thịt toàn cầu được dự đoán sẽ cao hơn 16% vào năm 2025. Nhu cầu gia tăng đối với thịt và các sản phẩm làm từ động vật cùng với sự gia tăng sản xuất chăn nuôi thương mại, chế biến thức ăn nhanh là những yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường. Việc tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao do người dân quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe dinh dưỡng của vật nuôi cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường chế biến thức ăn chăn nuôi. Theo dự báo của Mordor Intelligence, thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam dự kiến đạt tốc độ CAGR là 4,6% trong giai đoạn dự báo 2021-2026. Ngoài ra, sự tăng trưởng mạnh trên thị trường thức ăn chăn nuôi trong thời gian tới sẽ được thúc đẩy bởi chiến lược tăng trưởng của các công ty lớn dưới hình thức mở rộng và đầu tư, tăng tốc sản xuất thức ăn chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng để đa dạng danh mục sản phẩm và tiếp cận được các thị trường mục tiêu mới. Thêm vào đó, tỷ lệ các hộ chăn nuôi chuyển đổi từ chăn nuôi hình thức nhỏ lẻ sang chăn nuôi có tổ chức theo quy mô trang trại ngày càng tăng được kỳ vọng sẽ tiếp tục thúc đẩy cơ hội tăng trưởng thị trường thức ăn chăn nuôi trong những năm tới. Top 4 xu hướng của ngành TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo Chú trọng hơn việc sử dụng nguyên liệu, phụ gia thức ăn cho mục tiêu giảm khí thải và ứng phó biến đổi khí hiệu một cách bền vững Ngành chăn nuôi cũng được coi là có tỷ trọng đáng kể trong lượng khí thải carbon. Nguyên liệu, phụ gia thức ăn chăn nuôi có thể đóng góp hiệu quả vào việc giảm phát thải khí mê-tan và khí thải carbon. Thông qua đánh giá tác động của vòng đời sản phẩm các nhà khoa học đã chứng minh rằng những thành phần này có thể hỗ trợ tích cực cho việc giảm thiểu tác hại của môi trường đối với hoạt động chăn nuôi theo những cách khác nhau. Dự án Tính bền vững phụ gia thức ăn chăn nuôi do Hiệp hội thương mại của Liên minh Châu Âu về ngành công nghiệp phụ gia thức ăn chăn nuôi FEFANA và Liên đoàn Thức ăn Chăn nuôi Quốc tế IFIF thực hiện, đã nghiên cứu những ảnh hưởng này đối với nhiều loại nguyên liệu thức ăn. Nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng các thành phần như vậy có thể cắt giảm tới 15% khả năng nóng lên toàn cầu, phát thải phốt pho lên đến 30% và phát thải nitơ lên đến 50%. Điều này có nghĩa là giảm đáng kể các tác động liên quan đến phát thải đối với môi trường, chẳng hạn như giảm bài tiết các chất dinh dưỡng dư thừa, và axit hóa. Do đó, trong thời gian tới, các doanh nghiệp sản xuất TACN sẽ chú trọng hơn việc sử dụng các thành phần nguyên liệu và phụ gia trong thức ăn để góp phần thực hiện mục tiêu giảm khí thải và ứng phó biến đổi khí hậu một cách bền vững theo Tuyên bố COP-26 gần đây của Chính phủ Việt Nam, đặt mục tiêu giảm lượng khí thải carbon vào năm 2050. Phân khúc gia cầm tiếp tục chiếm ưu thế trên thị trường, thủy sản phục hồi và tăng tốc Thị trường thức ăn hỗn hợp Việt Nam được phân chia theo thành phần ngũ cốc, hạt có dầu và các chất dẫn xuất, bột cá và dầu cá, chất bổ sung và các thành phần khác và loại động vật động vật nhai lại, lợn, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và các loại động vật khác. Thức ăn gia cầm là thức ăn được tiêu thụ cao nhất trên cả nước do ngày càng có nhiều người tiêu dùng ưa chuộng thịt gà, chim cút, thịt vịt và trứng. Trong năm 2020, thức ăn cho lợn chiếm 8,9 triệu tấn, tương đương đạt tỷ lệ 43,8%; thức ăn cho gia cầm đã đạt mức 10,7 triệu tấn, chiếm tỷ lệ 53,7%; thức ăn cho các loại vật nuôi khác chiếm 0,6 triệu tấn, đạt tỷ lệ 3,0% trong cơ cấu sản lượng thức ăn chăn nuôi. Theo đánh giá của FAO, thịt gia cầm là yếu tố chính cho sự tăng trưởng của sản xuất thịt toàn cầu, do nhu cầu cao, chi phí sản xuất thấp và giá sản phẩm thấp hơn, cả trong các nước phát triển và đang phát triển. OECD đưa ra dự báo đối với thị trường gia cầm, sản lượng tiêu thụ trong 10 năm tới tại Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng bình quân 2,9%/năm. Xu hướng tiêu thụ gia cầm trên thực tế vẫn tiếp tục gia tăng tại nhiều quốc gia trên thế giới và nhu cầu về nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam cũng sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Theo dự báo của Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, nhu cầu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ là khoảng 28-30 triệu tấn/năm trong 5 năm tới, trị giá 12-13 tỷ USD với mức tăng trưởng trung bình 11 - 12%/năm, trong đó quá nửa sản lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi 14,5-15 triệu tấn sẽ dành cho ngành gia cầm. Kết quả khảo sát của Vietnam Report đối với chuyên gia và doanh nghiệp ngành TACN về nhu cầu của một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong năm tới đã cho thấy có xu hướng tăng lên trong nhu cầu đối với thủy sản, lợn và gia cầm, trong đó thủy sản là phân khúc được dự đoán sẽ có tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Thủy sản nằm trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, và đang có sự phục hồi khá tốt sau khi giảm vào các tháng 8, 9 do giãn cách xã hội. Theo Tổng cục Hải Quan, trị giá xuất khẩu trong tháng 10 đạt 889 triệu USD, cao nhất từ trước tới nay, tăng mạnh 42,3% so với tháng 9, tương ứng tăng 264 triệu USD về số tuyệt đối. Nhu cầu thủy sản tiếp tục tăng cao tại các thị trường lớn về thủy sản của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, sẽ thúc đẩy xuất khẩu ngành hàng này của Việt Nam và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp chăn nuôi thủy sản cũng như sản xuất thức ăn. Hình 8 Đánh giá nhu cầu của một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong năm 2022 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Đối với nhóm ngành thịt lợn nhu cầu được đánh giá là sẽ gia tăng trong thời tới, cộng thêm những chính sách hỗ trợ phát triển ngành chăn nuôi lợn thu hút các doanh nghiệp TACN tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất TACN lợn. Theo Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 của Bộ NN&PTNT, đặt ra mục tiêu đến năm 2030, tổng đàn lợn có mặt thường xuyên ở quy mô khoảng 29-30 triệu con, trong đó đàn heo nái khoảng 2,5-2,8 triệu con, đàn heo nuôi trang trại, công nghiệp chiếm trên 70%. Phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất TACN Kinh tế tuần hoàn KTTH đang là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam, nhất là khi đại dịch Covid-19 lan rộng đã định hình rõ hơn xu hướng đầu tư và phát triển bền vững. KTTH là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Trong nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn gắn với tăng trưởng xanh, phụ phẩm trong nông, lâm, thuỷ sản đang được xem là đầu vào quan trọng, kéo dài chuỗi giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Việt Nam hiện có tới 120 triệu tấn các loại phụ phẩm nông nghiệp, trong đó rơm chiếm tới 43 triệu tấn, là tiềm năng rất lớn có thể áp dụng công nghệ ủ chua, các chế phẩm vi sinh, phơi khô, hệ thống các sản phẩm và phụ phẩm từ ngành thủy sản rất lớn để có thể làm TACN. Đây là nguồn nguyên liệu TACN rất quan trọng, nếu tận dụng tốt phế phụ phẩm tại chỗ sẽ mang lại hiệu quả rất tốt cho ngành chăn nuôi nói riêng và ngành Nông nghiệp nói chung. Trong thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã đẩy mạnh dự án kinh tế tuần hoàn, sử dụng chế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi và nhân rộng các mô hình cánh đồng lớn trồng bắp, sản xuất thức ăn chăn nuôi từ phế, phụ phẩm nông nghiệp. Trong thời gian tới, việc chủ động sử dụng nguồn phụ phẩm ở trong nước sẽ được đẩy mạnh hơn nữa cùng với đó là sự tăng cường đầu tư khoa học công nghệ cao để có thể phát triển được trong một số phụ phẩm. Áp dụng công nghệ số trong ngành TACN Những tiến bộ công nghệ đang được áp dụng vào sản xuất thức ăn chăn nuôi. Các nhà khoa học không chỉ xem xét cách thức công nghệ hỗ trợ sản xuất chăn nuôi bằng các kỹ thuật sinh học, hóa học, vật lý mà cả bằng kỹ thuật số. Công nghệ số sẽ cho phép giải quyết hiệu quả hơn nhiều những thách thức to lớn đang phải đối mặt hiện nay và trong tương lai đối với ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Blockchain là ứng dụng cho phép quản lý an toàn, với một lượng lớn dữ liệu đáng tin cậy về truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thô, phương pháp sản xuất, bộ gen, chất dinh dưỡng. Các nhà khoa học đang bắt đầu khám phá cách lưu trữ, xử lý thông tin bằng ứng dụng AI Trí tuệ nhân tạo, cũng như tạo ra kiến thức từ lượng dữ liệu khổng lồ Big data về năng suất, sinh trắc học và sinh lý học. Việc tích hợp các dữ liệu sản xuất đó từ động vật, trang trại, lò giết mổ và ngành công nghiệp chế biến thịt sẽ cung cấp một cách tiếp cận tổng thể mới của chuỗi sản xuất, từ đó cho phép điều chỉnh nhiều hơn, điều chỉnh chính xác hơn khẩu phần ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của động vật, và thiết lập kế hoạch cho ăn không chỉ dựa trên mục tiêu sản xuất mà còn giải quyết các khía cạnh vệ sinh, chất lượng sản phẩm, sức khỏe và tính bền vững. Kết quả khảo sát của Vietnam Report về tình hình ứng dụng công nghệ và kỹ thuật số vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp TACN cho thấy lĩnh vực được ứng dụng nhiều nhất là hoạt động sản xuất, điều hành doanh nghiệp và hoạt động bán hàng. Các lĩnh vực giao nhận hàng hóa logistics, quản lý nhân sự, tuyển dụng còn hạn chế. Một số doanh nghiệp lớn trong ngành đã triển khai ứng dụng Big Data; Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP; Điện toán đám mây; IOT internet vạn vật, Blockchain ở mức độ cao, trên quy mô lớn, trong khi nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa mới đang triển khai một phần trên một số ứng dụng. Top 5 giải pháp của doanh nghiệp TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo Khả năng thích ứng nhanh và tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ là chìa khóa cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trước tác động của đại dịch Covid-19. Để tạo ra những cơ hội phát triển trong thời kỳ bình thường tiếp theo, các doanh nghiệp TACN phải có sự chuẩn bị tốt cho những thách thức phía trước. Kết quả khảo sát của Vietnam Report đã chỉ ra top 5 giải pháp của doanh nghiệp ngành TACN trong thời gian tới i Nghiên cứu các sản phẩm thức ăn chăn nuôi hữu cơ, đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn sinh học; ii Đầu tư máy móc và dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi tự động hóa, đạt tiêu chuẩn quốc tế; iii Phát triển tổ hợp mô hình an toàn sinh học; iv Tăng cường các biện pháp quản trị rủi ro tài chính, biến động giá và chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào; v Thực hiện M&A, tăng cường quan hệ hợp tác để mở rộng chuỗi kinh doanh. So với kết quả khảo sát được thực hiện vào năm 2020, top 5 giải pháp của doanh nghiệp có thêm hai giải pháp mới được chú trọng là Tăng cường các biện pháp quản trị rủi ro tài chính, biến động giá và chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào; và Thực hiện mua lại và sáp nhập M&A, tăng cường quan hệ hợp tác để mở rộng chuỗi kinh doanh. Trong thời kỳ có nhiều biến động do tác động của dịch bệnh, cả doanh nghiệp và người chăn nuôi đều quan tâm đến giải pháp để tiết kiệm hơn nữa chi phí đầu vào sản xuất, trong đó giảm chi phí thức ăn chăn nuôi là mối quan tâm hàng đầu bằng việc tối đa hóa nguồn nguyên vật liệu trong nước, đa dạng hóa nguồn cung để giảm tình trạng thiếu hụt nguyên liệu. Việt Nam thường nhập khẩu ngô từ Argentina và Brazil do giá rẻ hơn và chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn của ngành chăn nuôi trong nước, nhưng khi hai nước này gặp hạn hán làm giảm nguồn cung, nhiều doanh nghiệp chăn nuôi Việt Nam cũng đã thực hiện một số giải pháp hiệu quả như tìm kiếm nguồn cung rẻ hơn thay thế như ngô Ấn Độ, Pakistan, Ukraine, Hình 9 Top 5 giải pháp của doanh nghiệp TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Để hỗ trợ tốt nhất cho ngành thức ăn chăn nuôi, hạ giá thành sản xuất, cần tháo gỡ được nút thắt quan trọng nhất về giảm nguồn phụ thuộc vào nhập khẩu, chủ động nguyên liệu phục vụ cho sản xuất thức ăn chăn nuôi. Đây là vấn đề cần thực hiện trong dài hạn, Chính phủ cần tổ chức quy hoạch và phát triển nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi một cách bài bản, đồng bộ. Các chuyên gia và doanh nghiệp TACN trong khảo sát của Vietnam Report cũng đưa ra những đề xuất trước mắt với Chính phủ có thể hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi thông qua i Hỗ trợ kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh và phát triển đàn vật nuôi ở các địa phương; ii Giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất; iii Hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân phát triển tổ hợp mô hình an toàn sinh học; iv Nâng cao công tác thống kê, dự báo thị trường ngành chăn nuôi, cân đối sản lượng TACN trong nước với tốc độ phát triển của đàn gia súc, gia cầm; v Đơn giản các thủ tục hành chính để giảm chi phí, hoàn thiện hệ thống hạ tầng cảng biển, kho bãi chuyên dùng phục vụ xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi; vi Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi. Vietnam Report
Dự kiến lượng nhập khẩu nhóm hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu về Việt Nam năm 2022 sẽ đạt gần 10 triệu tấn, trị giá 5,4 tỷ USD, giảm 4% về lượng nhưng tăng 8% về trị giá so với năm 2021. HƠN 3,5 TỶ USD NHẬP KHẨU ĐẬU TƯƠNG VÀ KHÔ DẦU ĐẬU TƯƠNG Trong số 5,16 tỷ USD nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất thức ăn chăn nuôi lên tới gần 5 tỷ USD. Từ đầu năm 2022 đến nay, Việt Nam nhập khẩu 27 chủng loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Trong 11 tháng vừa qua, khối lượng đậu tương về Việt Nam đạt 1,7 triệu tấn, tiêu tốn 1,18 tỷ USD, giảm 9,8% về lượng nhưng tăng 7,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Lượng nhập khẩu đậu tương về Việt Nam trong những tháng tới dự kiến đạt từ 120- 160 nghìn tấn/tháng, với giá nhập khẩu từ 700 – 730 USD/tấn. Việt Nam nhập khẩu đậu tương từ 5 thị trường, trong đó Braxin là thị trường cung cấp đậu tương lớn nhất, chiếm 70% tổng lượng đậu tương nhập khẩu và tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2021. Dự báo đây sẽ là thị trường cung cấp đậu tương lớn nhất của Việt Nam trong năm 2022 và nửa đầu năm 2023, do nguồn cung dồi dào, giá cạnh tranh so với các thị trường cung cấp khác. Lượng nhập khẩu đậu tương từ Braxin trong năm 2022 dự kiến đạt trên 1 triệu tấn, tăng 11% so với năm 2021. Mỹ là thị trường cung cấp đậu tương lớn thứ 2 cho Việt Nam, nhưng lượng nhập khẩu giảm mạnh, đạt 519 nghìn tấn, giảm 38,2% so với cùng kỳ năm 2021 và chiếm 30,3% tỷ trọng nhập khẩu. "Tính chung 11 tháng năm 2022, lượng nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam đạt 4,33 triệu tấn, tiêu tốn tới 2,44 tỷ USD, giảm 7,1% về lượng nhưng tăng 4,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021, chiếm 47% về lượng và 49% về trị giá trong tổng nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam". Theo số liệu của Tổng cục Hải quan. Tuy nhiên, đậu tương chưa phải là mặt hàng chiếm tỷ trọng cao nhất về giá trị trong các nguyên liệu thức ăn gia súc, mà “vô địch” thuộc về khô dầu đậu tương. Nguồn cung cấp chính khô đậu tương là Nam Mỹ và Mỹ. Giá nhập khẩu trung bình khô đậu tương trong tháng 10/2022 ở mức 587 USD/tấn, giảm 1,4% so với tháng trước nhưng tăng 25,2% so với tháng 10/2021. Lượng nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam trong năm 2022 dự kiến đạt 4,7 triệu tấn, trị giá 2,65 tỷ USD, giảm 6% về lượng nhưng tăng 6% về trị giá so với năm 2021. Đối với mặt hàng khô dầu cọ, nhập khẩu trong 11 tháng đạt 515 nghìn tấn, trị giá 111 triệu USD, giảm 8,2% về lượng nhưng tăng 6,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng khô dầu cọ là Indonesia đạt 421,3 nghìn tấn và Malaysia đạt 27,4 nghìn tấn. Trong 11 tháng qua, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đã nhập khẩu 237 nghìn tấn khô hạt cải, trị giá 91,5 triệu USD, giảm 15,8% về lượng và giảm 7,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng khô hạt cải là Ấn Độ, UAE, Pakixtan… Từ đầu năm đến nay, lượng dinh dưỡng gia súc nhập về Việt Nam đạt 1,23 triệu tấn, kim ngạch 460 triệu USD, tăng 0,8% về lượng và tăng 21,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Việt Nam đã nhập khẩu 521 nghìn tấn cám gạo, trị giá 112 triệu USD, tăng 1,8% về lượng và tăng 23,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng này là Ấn Độ. Giá nhập khẩu trung bình cám gạo trong tháng 11/2022 ở mức 241 USD/tấn, tương đương với tháng trước và tăng 23,2% so với tháng 11/2021. Nhập khẩu cám ngô cũng tăng mạnh, trong 11 tháng đã nhập 140 nghìn tấn, kim ngạch 43 triệu USD, tăng 6,2% về lượng và tăng 23,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng cám ngô là Trung Quốc và Ấn Độ. Ngoài ra, nước ta nhập khẩu 354 nghìn tấn cám mỳ, giảm 16,9% so với cùng kỳ năm 2021. Nguồn cung cấp cám mỳ chủ yếu từ Tanzania, Indonesia… Nhập khẩu bột cá trong 11 tháng đạt 110 nghìn tấn, kim ngạch 163 triệu USD, giảm 13,2% so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính mặt hàng này là Ấn Độ, Ôman, Pêru… Hiện giá nhập khẩu trung bình bột cá ở mức USD/tấn. Trong 11 tháng, các doanh nghiệp ngành thức ăn chăn nuôi cũng đã chi 503 triệu USD để nhập khẩu mặt hàng chất bổ trợ, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2021. Thị trường cung cấp chính là Châu Á Trung Quốc, Thái Lan…. LO NGẠI VỀ BỘT THỊT XƯƠNG NHẬP KHẨU Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng năm 2022, các doanh nghiệp Việt Nam đã nhập khẩu 724 nghìn tất bột thịt xương, tiêu tốn 402 triệu USD; tăng 17,1% về lượng và tăng 33,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột thịt xương trong tháng 11/2022 ở mức 565 USD/tấn, tăng 7,8% so với tháng 11/2021. EU là khối thị trường cung cấp lớn nhất mặt hàng bột thịt xương cho Việt Nam trong năm 2022 và nửa đầu năm 2023 do những ưu đãi từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU EVFTA mang lại, các dòng thuế nhập khẩu hàng hóa hầu hết về 0%, nên giá nhập khẩu bột thịt xương từ EU sẽ ở mức cạnh tranh so với các thị trường cung cấp khác. Lượng nhập khẩu bột thịt xương từ EU trong năm 2022 dự kiến đạt gần 500 nghìn tấn, trị giá 277 triệu USD, tăng 22,5% về lượng và tăng 40,6% về trị giá so với năm 2021. Mỹ là thị trường cung cấp mặt hàng bột thịt xương lớn thứ 2 cho Việt Nam, chiếm 14,9% tổng lượng bột thịt xương nhập khẩu của Việt Nam trong năm 2022. Việt Nam cũng đã nhập khẩu 210 nghìn tấn bột thịt gia cầm, trị giá 200 triệu USD trong 11 tháng của năm 2022; tăng 8,1% về lượng và tăng 21% về trị giá so với cùng kỳ năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột gia cầm trong tháng 11/2022 ở mức 961 USD/tấn, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường cung cấp chính mặt hàng này là Mỹ, Braxin, Ả Rập Xê Út… Tình trạng nhập khẩu bột thịt xương lợn và bột thịt gia cầm tăng mạnh, cho thấy các doanh nghiệp sản xuất thức ăn gia súc ở Việt Nam vẫn còn sử dụng nhiều nguyên liệu này. "Bột xương thịt, bột thịt gia cầm được sản xuất từ phế phẩm, nên nguy cơ chứa nhiều chất độc hại, tiềm ẩn nguy cơ chứa virus, vi khuẩn gây bệnh. Bởi vậy, chăn nuôi ở EU không còn sử dụng nguyên liệu này". Ông Trương Sỹ Bá, Chủ tịch HĐQT Công ty BaF. Ông Trương Sỹ Bá, Chủ tịch HĐQT Công ty BaF cho biết rất nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn sử dụng đạm gốc động vật được nhập khẩu từ các doanh nghiệp châu Âu có giá rất rẻ, được sản xuất từ xương, phụ phẩm heo, những bộ phận không dùng đến của heo. “Ở các nước phát triển, phần phụ phẩm này nếu không làm bột xương thịt họ phải tốn kém thêm chi phí để xử lý, đảm bảo cho vấn đề môi trường, do đó, đạm gốc động vật được chế biến thực chất không tính đến lợi nhuận, nên giá rất rẻ”, ông Bá thông tin. Ông Vũ Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Chăn nuôi Việt Nam, cho biết trước đây, một số axit amin thiết yếu trong vật nuôi, mà trong thực vật không có, con người cũng chưa tổng hợp được. Khi đó, sản xuất thức ăn chăn nuôi phải sử dụng một tỷ lệ nhất định đạm động vật, bao gồm bột cá, bột thịt, bột xương, bột lông vũ… Nhưng hiện nay công nghệ đã phát triển, con người đã sản xuất được hầu hết các axit amin thiết yếu và các dinh dưỡng quan trọng để cân đối thức ăn cho vật nuôi. Vì vậy ngày nay, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi tiên tiến trên thế giới, trong đó có Công ty CP Việt Nam đã không còn sử dụng nguyên liệu đạm động vật nữa, mà sử dụng 100% nguyên liệu từ thực vật. Ông Tuấn cũng tỏ ra ngạc nhiên khi biết số lượng bột thịt xương, bột thịt gia cầm nhập khẩu về Việt Nam quá lớn, và cho rằng “Chỉ những doanh nghiệp công nghệ lạc hậu mới còn cần đến nguyên liệu này, và sớm hay muộn các doanh nghiệp đó cần phải thay đổi nếu muốn tồn tại và phát triển bền vững”.
Thủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc thực vật Ngày nay, thức ăn chăn nuôi và các loại nguyên liệu thô để sản xuất thức ăn chăn nuôi được nhập khẩu vào Việt Nam rất nhiều. Nhưng không nhiều Doanh Nghiệp biết được thủ tục hải quan nhập khẩu thức ăn chăn nuôi hay nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi. Chính vì thế bài viết dưới đây mình sẽ chia sẽ với các bạn về thủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thực vật để các bạn biết qua về quy trình nhập khẩu mặt hàng này. Các loại nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi hay các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ động vật cũng tương tự, chỉ khác nhau một chút xíu về đơn vị kiểm tra thôi. Hiện nay, thức ăn chăn nuôi là mảng nhập khẩu mà mình thấy phức tạp nhất chỉ đứng sau nhập khẩu phân bón thôi. Nhưng qua những lần làm thủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi cho khác hàng thấy được cái khó cũng như cái hay của việc làm thủ tục hải quan cho nhập khẩu mặt hàng dưới đây mình chỉ tập trung chia sẽ về thủ tục hải quan nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thực vật thôi tắtBước 1 Kiểm tra thức ăn chăn nuôi trong danh mục nguyên liệu thức ăn truyền thốngBước 2 Xin phép kiểm dịch thực vật cho thức ăn chăn nuôiBước 3 Đăng ký kiểm dịch thực vật và kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôiBước 4 Làm thủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và lấy mẫu tại cảngXem thêmThủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ động 1 Kiểm tra thức ăn chăn nuôi trong danh mục nguyên liệu thức ăn truyền thốngĐầu tiên, khi các bạn nhập khẩu thức ăn chăn nuôi hay nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi thì các bạn cần kiểm tra xem nguyên liệu hoặc loại thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thực vật có nằm trong danh sách dưới đây không nhé. Nếu không có trong danh mục dưới đây thì chắc chăn sẽ không được phép nhập khẩu vào Việt Nam đâu mục nguyên liệu thức ăn truyền thống*TTNguyên liệu1Nguyên liệu có nguồn gốc động liệu có nguồn gốc thuỷ sảnCá, tôm, cua, động vật giáp xác, động vật nhuyễn thể, thủy sản khác; sản phẩm, phụ phẩm từ thủy liệu có nguồn gốc động vật trên cạnBột xương, bột thịt, bột thịt xương, bột huyết, bột lông vũ thủy phân, bột gia cầm, trứng, côn trùng, động vật không xương sống, sữa và sản phẩm từ sữa;sản phẩm, phụ phẩm khác từ động vật trên liệu khác có nguồn gốc động vật2Nguyên liệu có nguồn gốc thực loại hạt và sản phẩm từ cốcNgô, thóc, lúa mì, lúa mạch, kê,hạt cốc khác; sản phẩm, phụ phẩm từ hạt đậuĐậu tương, đậu xanh, đậu lupin, đậu triều,hạt đậu khác; sản phẩm, phụ phẩmtừ hạt có dầuHạt lạc, hạt bông, hạt lanh, hạt vừng, hạt điều,hạt có dầu khác;sản phẩm, phụ phẩmtừ hạt có dầuKhô dầu đậu tương, khô dầu lạc, khô dầu cọ, khô dầu hạt cải, khô dầu vừng, khô dầu hướng dương, khô dầu lanh, khô dầu dừa, khô dầu bông, khô dầu đậu lupin, khô dầu thân, củ, quảRễ, thân, củ, quả ví dụ khoai, sắn, cà rốt, củ cải, dong, chuối, mía, rau..sản phẩm, phụ phẩm từ rễ, thân, củ, ngô, gluten mì, gluten thức ăn chăn nuôi, gluten phẩm, phụ phẩm từ sản xuất, chế biến thực phẩm, phụ phẩm từ sản xuất, chế biến mía đường và bánh kẹoRỉ mật, vụn bánh, sản phẩm, phụ phẩm khác từ sản xuất, chế biến đường và bánh phẩm từ sản xuất, chế biến cồn, rượu, biaBã rượu, bỗng rượu, bã bia, men bia, men rượu, sản phẩm khô của sản xuất cồn từ hạt cốc DDGS và phụ phẩm khác từ sản xuất, chế biến cồn, rượu, phẩm, phụ phẩm từ sản xuất, chế biến thực phẩm khácBã dứa, bã đậu, bã sắn, bã mía; sản phẩm, phụ phẩm khác từ sản xuất, chế biến thực bộtTinh bột gạo, tinh bột ngô, tinh bột sắn, tinh bột mì và tinh bột ăn cỏ trên cạnCỏ tự nhiên, cỏ trồng, cây họ hòa thảo, cây họ đậu,cây, cỏ trên cạn khác và sản phẩm từ cây cỏ trên thủy sinhRong, rêu, tảo, bèo,cây thủy sinh khác và sản phẩm từ cây thủy phẩm cây trồngRơm, rạ, trấu, lõi ngô, bẹ ngô,lá, thân cây trồng,phụ phẩm khác từ cây liệu khác từ thực vật3Dầu, mỡ có nguồn gốc thực vật, động vật trên cạn, thủy sản4ĐườngGlucose, lactose, mantose và đường khác5Ure làm thức ăn cho gia súc nhai lại, muối ăn NaCl,bột đá, đá hạt, đá mảnh6Nguyên liệu thức ăn truyền thống khác* Ở dạng đơn tự nhiên hoặc đã qua chế biến, có bổ sung hoặc không bổ sung chất kỹ tư số 21 /2019/TT-BNNPTNTSau khi đã kiểm tra và có trong mục này rồi thì ok, coi như bước 1 bạn đã thành công là được phép nhập khẩu vào Việt 2 Xin phép kiểm dịch thực vật cho thức ăn chăn nuôiTiếp theo chúng ta phải kiểm tra xem mặt hàng mình cần nhập khẩu có thuộc đối tượng phải xin giấy phép kiểm dịch thực vật hay không. Căn cứ công văn 1328/BVTV-KD Danh mục vật thể thuộc diện kiểm dịch thực vật. Nếu sản phẩm bạn nhập về mà dính tên trong công văn này thì buộc bạn phải xin giấy phép kiểm dịch thực vật trước khi nhập vào Việt Nam. giấy này do cục bảo vệ thực vật cấp.Hồ sơ xin bao gồm hồ sơ có thể nộp về trực tiếp or nộp qua hệ thống 1 cửa quốc gia.1. Giấy phép đăng ký kinh doanh2. Hợp Đồng Thương Mại3. Đơn đăng ký theo mẫu==>> Thời gian cấp phép khoản 7 ngày làm việc nên nhớ là có giấy này thì mới được phép nhập khẩu nhé, vì khi xin giấy này thì bên cục bảo vệ thực vật yêu cầu đối tác phải xét các chỉ tiêu theo yêu cầu phía Việt Nam và nó được thể hiện trên Phytosanitary đầu xuất khẩu, trong trường hợp trên giấy phép có thể hiện một số điều kiện cần thiết đáp ứng theo yêu cầu cua phía Vn nhưng khi hàng về trên giấy Phyto không thể hiện thì coi như hồ sơ bạn không hợp lệ THẬT SỰ NÊN CẨN THẬN CHỖ NÀY.Bước 3 Đăng ký kiểm dịch thực vật và kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôiSau khi đã thỏa các điều kiện trên rồi thì hàng được cho về cảng để tiến hành kiểm dịch và kiểm tra chất lượng nhà sơ được nộp cho cơ quản kiểm dịch thực vật bao gồm 2 bộ1. Đơn đăng ký kiểm tra chất lượng và xác nhận chất lượng theo thông tư 3 bản2. Invoice, packing list, Giấy kiểm dịch đầu nước ngoài phyto3. COA certificate of analysis Nếu hàng bạn về HCM thì bạn nộp hồ sơ tại 28 Mạc Đỉnh Chi, cơ quan kiểm dịch phía sơ nộp cho cơ quan kiểm tra chất lượng nhà nước1. Sau khi bạn nộp hồ sơ cho cơ quản kiểm dịch thì bên kiểm dịch sẽ trả lại bạn một bộ hồ sơ và 2 tờ đăng ký 1 Cho HQ và 1 cho cơ quan kiểm tra chất lượng Hiện tại có rất nhiều cơ quan được phép chứng nhận chất lượng cho hàng nhập khẩu vì thế bạn nên chọn trung tâm nào rẻ về chi phí mà 4 Làm thủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và lấy mẫu tại cảngTới bước này thì coi như là bạn đã đi tới 90% đoạn đường rồi, chỉ cần nộp các giấy tờ trên cho hải quan và cán bộ kiểm dịch + cơ quan kiểm tra chất lượng cùng lấy mẫu thực tế tại cảng để test lô hàng của mình theo chỉ tiêu TCVN, hàng bạn sẽ được giải phóng về kho và chờ kết quả đạt chất lượng của cơ quan, nếu mọi thứ ok thì nộp chứng thư kiểm tra đạt chất lượng cho hải quan để cơ quan hải quan thông quan. Trên đây là toàn bộ quy trình làm thủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ thực vật. Nếu như các bạn không nắm rõ được quy trình thì mình khuyên các bạn nên tìm một đơn vị logistics từ làm thủ tục nhập khẩu mặt hàng này để làm thủ tục hải quan. Vì cho dù đã làm quen thủ tục nhưng vẫn còn gặp một số khó khăn trong qua trình làm thủ tục, nhưng với kinh nghiệm của họ sẽ biết cách xử lý tốt nhất và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp của bạn. Còn nếu bạn tự làm khi gặp khó khăn mà tìm phương hướng xử lý nữa thì phát sinh rất nhiều chi phí lưu hàng ở cảng, do số lượng khi nhập khẩu hàng này thường đi số lượng tôi đã từng làm nhiều lô hàng thức ăn chăn nuôi có nguồn gốc từ động vật và thực vật nên có thể hỗ trợ tốt nhất cho các bạn, nếu có ý định nhập khẩu mặt hàng này mà chưa nắm rõ quy trình hãy gọi cho chúng tôi ngay qua số 0949 6353 cập Fanpage và Group facebook XUẤT NHẬP KHẨU HCM để cập nhật các thông tin mới nhất về xuất nhập khẩuNguồn Khắc - ShippingĐT 0949 63 53 89 zaloEmail sales4 quan Tweet Share Share Share Share
nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi